Điều 5. Các trường hợp được đặc cách công nhận sáng kiến cấp tỉnh
1. Các trường hợp được đặc cách công nhận sáng kiến cấp tỉnh phải đạt một trong các tiêu chuẩn sau:
a) Đoạt giải Nhất, Nhì, Ba trong các Hội thi sáng tạo Khoa học-Kỹ thuật cấp tỉnh, toàn quốc.
b) Đoạt giải trong các cuộc thi khu vực các quốc gia, quốc tế.
c) Được tặng Bằng tuổi trẻ sáng tạo của Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.
d) Được tặng Bằng lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
e) Là tác giả, đồng tác giả của văn bằng bảo hộ do cơ quan có thẩm quyền cấp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí.
f) Là chủ nhiệm, thành viên thực hiện chính, thư ký khoa học, thành viên khác trong Ban chủ nhiệm đề tài khoa học và công nghệ cấp Nhà nước, Bộ, tỉnh đã được nghiệm thu đạt từ loại “khá” trở lên. Đối với thành viên khác trong Ban chủ nhiệm đề tài thì phải có thời gian làm việc cho đề tài khoa học và công nghệ ít nhất đạt 2/3 tổng thời gian thực hiện đề tài khoa học và công nghệ.
g) Các công trình khoa học đã được công bố như: Bài báo khoa học đăng trên tạp chí chuyên ngành hoặc kỷ yếu khoa học; ấn phẩm sách đã được xuất bản; Luận án tiến sỹ; Luận văn Bác sỹ Chuyên Khoa II; Sáng chế và giải pháp hữu ích đã được cấp có thẩm quyền công nhận.
2. Các trường hợp được đặc cách công nhận sáng kiến cấp tỉnh không phải thông qua họp Hội đồng sáng kiến tỉnh. Người được đủ điều kiện đặc cách công nhận sáng kiến cấp tỉnh gửi bản sao giấy tờ chứng minh một trong các tiêu chuẩn quy định tại khoản 1, Điều này gửi về Thường trực Hội đồng sáng kiến tỉnh (Sở Khoa học và Công nghệ) để báo cáo các trường hợp đặc cách trong kỳ họp Hội đồng.