Điều 4. Nguyên tắc xét khen thưởng
1. Chính xác, công khai, công bằng, kịp thời.
2. Bảo đảm thống nhất giữa tính chất, hình thức và đối tượng khen thưởng.
3. Kết hợp chặt chẽ giữa động viên tinh thần với khuyến khích bằng lợi ích vật chất.
4. Một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng.
5. Trong một năm không trình quá hai Bằng khen Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh (trừ khen thưởng đột xuất) cho một đối tượng, chỉ trình một hình thức khen thưởng cấp nhà nước hoặc danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc” đối với một cá nhân.
6. Không xét khen thưởng sơ kết, tổng kết việc thực hiện luật, pháp lệnh, nghị định hoặc phục vụ hội nghị, hội thảo, diễn đàn, hội thao, hội diễn, hội thi.
7. Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới trong thi đua, khen thưởng:
a) Đối với nữ là cán bộ lãnh đạo, quản lý, thời gian giữ chức vụ để xét khen thưởng có quá trình cống hiến được giảm 03 năm so với quy định chung;
b) Đối với khen thưởng thành tích thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, khi có nhiều cá nhân, tập thể cũng đủ điều kiện, tiêu chuẩn thì lựa chọn cá nhân nữ và tập thể có tỷ lệ nữ từ 70% trở lên để xét khen thưởng.
8. Chú trọng khen thưởng tập thể nhỏ, cá nhân trực tiếp lao động, công tác, chiến đấu, sản xuất kinh doanh (công nhân, nông dân, chiến sĩ) và cá nhân có nhiều sáng tạo trong lao động, công tác; thành tích đạt được trong điều kiện khó khăn và có phạm vi ảnh hưởng lớn được khen thưởng mức cao hơn.
9. Xét khen thưởng người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải căn cứ vào thành tích của tập thể do cá nhân đó lãnh đạo;
10. Thời gian đề nghị khen thưởng cho lần tiếp theo được tính từ khi có quyết định khen thưởng lần trước.