Điều 14. Hỗ trợ khác
1. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nếu tự giác giải phóng mặt bằng theo đúng kế hoạch của tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì ngoài khoản bồi thường, hỗ trợ theo quy định còn được hỗ trợ thêm. Mức cụ thể như sau:
- Giải tỏa nhà ở (kể cả trường hợp phá dỡ một phần phải sửa chữa lại) được hỗ trợ: 5.000.000 đồng/hộ;
- Giải toả mà tài sản là vật kiến trúc, cây lâu năm có giá trị bồi thường từ 30.000.000 đồng trở lên được hỗ trợ: 2.000.000 đồng/hộ;
- Giải toả khác mà tài sản có giá trị bồi thường từ 15.000.000 triệu đồng đến dưới 30.000.000 đồng được hỗ trợ: 1.000.000 đồng/hộ.
2. Hỗ trợ hộ thuộc diện chính sách là hộ gia đình người có công với cách mạng theo Pháp lệnh người có công số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29/6/2005 và Pháp lệnh số 35/2007/PL-UBTVQH11 ngày 21/6/2007 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi đất là: 2.000.000 đồng/hộ.
3. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có nguồn sống chính từ sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng mà không đủ điều kiện để được bồi thường theo quy định tại Điều 8 Nghị định 197/2004/NĐ-CP và các Điều 44, 45 và Điều 46 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, ngày 25/5/2007 của Chính phủ Quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai thì được xem xét hỗ trợ đối với từng trường hợp cụ thể. Mức hỗ trợ do tổ chức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư xác định nhưng tối đa không quá 30% giá đất nông nghiệp cùng hạng.
4. Ngoài các quy định trên, trường hợp đặc biệt Chủ tịch UBND tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống và sản xuất cho người bị thu hồi đất.