Điều 11. Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở
1. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm còn được hỗ trợ. Mức hỗ trợ như sau:
a) Khu vực đô thị: Diện tích nhỏ hơn hoặc bằng 300m2 hỗ trợ bằng 60% giá đất ở được bồi thường, diện tích trên 300m2 đến 1.000m2 hỗ trợ bằng 50%, diện tích trên 1.000m2 đến 1.500m2 hỗ trợ bằng 40% giá đất ở được bồi thường.
b) Khu vực nông thôn: Diện tích nhỏ hơn hoặc bằng 400m2 hỗ trợ bằng 60% giá đất ở được bồi thường, diện tích trên 400m2 đến 1.000m2 hỗ trợ bằng 50%, diện tích trên 1.000m2 đến 2.000m2 hỗ trợ bằng 40% giá đất ở được bồi thường.
2. Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP khi nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp còn được hỗ trợ. Mức hỗ trợ cụ thể như sau:
a) Khu vực đô thị: Diện tích nhỏ hơn hoặc bằng 300m2 hỗ trợ bằng 50%, diện tích trên 300m2 đến 1.000m2 hỗ trợ bằng 40%, diện tích trên 1.000m2 đến 1.500m2 hỗ trợ bằng 30% giá đất ở trung bình của khu vực đất thu hồi theo quy định trong Bảng giá đất được Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.
b) Khu vực nông thôn: Diện tích nhỏ hơn hoặc bằng 400m2 hỗ trợ bằng 50%, diện tích trên 400m2 đến 1.000m2 hỗ trợ bằng 40%, diện tích trên 1.000m2 đến 2.000m2 hỗ trợ bằng 30% giá đất ở trung bình của khu vực đất thu hồi theo quy định trong Bảng giá đất được Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.
Ranh giới khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn đã được xác định ranh giới theo quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt; trường hợp khu dân cư thị trấn, khu dân cư nông thôn chưa có quy hoạch được xét duyệt thì xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của khu dân cư.