vanban.org

Điều 10. Xử lý nợ bị rủi ro — Quyết định 01/2018/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 26/05/2026 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 26/05/2026 Sửa đổi, bổ sung: 26/2019/QĐ-UBND · 02/04/2019
Lâm Đồng Ban hành 04/01/2018 Hiệu lực 14/01/2018 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 7 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 01/2018/QĐ-UBND Ban hành quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua Ngân hàng chính sách xã hội để cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng · 01/2018/QĐ-UBND
26/05/202629/2026/QĐ-UBNDSửa đổi Đang xem 15/04/201926/2019/QĐ-UBNDBổ sung 14/01/2018Bản gốcThay thế
Quyết định số 33/2016/QĐ-UBND Ban hành Quy định cho người lao động trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng vay vốn đi lao động có thời hạn ở nước ngoài · 33/2016/QĐ-UBND
Quyết định số 40/2010/QĐ-UBND Điều chỉnh Quyết định số 16/2010/QĐ-UBND ngày 12/5/2010 của UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành quy định cho vay vốn đi lao động có thời hạn ở nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. · 40/2010/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 01/2018/QĐ-UBND › Chương II › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Xử lý nợ bị rủi ro

1. Các khoản nợ bị rủi ro do nguyên nhân khách quan: Đối tượng được xem xét xử lý rủi ro, nguyên nhân khách quan làm thiệt hại trực tiếp đến vốn và tài sản của khách hàng, biện pháp xử lý, hồ sơ pháp lý để xem xét xử lý nợ bị rủi ro thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế xử lý nợ bị rủi ro tại Ngân hàng Chính sách xã hội từng thời kỳ;

2. Các khoản nợ bị rủi ro do các nguyên nhân khác: Ngân hàng Chính sách xã hội các cấp chủ trì, phối hợp với cơ quan Tài chính, cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội và các đơn vị có liên quan xem xét, thẩm định hồ sơ, xác định rõ nguyên nhân và thống nhất bằng văn bản biện pháp xử lý đối với từng trường hợp cụ thể; báo cáo, đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định;

3. Thẩm quyền xem xét xử lý nợ bị rủi ro:

a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định việc khoanh nợ, xóa nợ cho khách hàng vay vốn từ nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh ủy thác trên cơ sở đề xuất của Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Lâm Đồng sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Sở Tài chính và các cơ quan, đơn vị có liên quan;

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định việc khoanh nợ, xóa nợ cho khách hàng vay vốn từ nguồn vốn ngân sách cấp huyện ủy thác trên cơ sở đề xuất của Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội cấp huyện, sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Phòng Tài chính - Kế hoạch và các cơ quan, đơn vị có liên quan;

c) Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội nơi cho vay quyết định việc gia hạn nợ đối với khách hàng.

4. Nguồn vốn để xử lý nợ bị rủi ro: Sử dụng từ Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng đã được Ngân hàng Chính sách xã hội các cấp trích lập và quản lý theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 9 Quy chế này;

5. Trường hợp Quỹ Dự phòng rủi ro không đủ để bù đắp, tùy theo tình hình thực tế, khoản vay bị rủi ro thuộc nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác; cơ quan Tài chính chủ trì, phối hợp cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, và Ngân hàng Chính sách xã hội các cấp báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp bổ sung ngân sách cấp mình để xử lý hoặc giảm trực tiếp vào nguồn vốn ủy thác của ngân sách địa phương chuyển qua Ngân hàng Chính sách xã hội cùng cấp;

6. Trường hợp Quỹ Dự phòng rủi ro sau khi được sử dụng để xử lý xóa nợ bị rủi ro lớn hơn số dư Quỹ Dự phòng rủi ro tối đa; trên cơ sở đề xuất của Ngân hàng Chính sách xã hội cùng cấp, cơ quan Tài chính chủ trì, phối hợp cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội và các đơn vị liên quan, báo cáo đề xuất Ủy ban nhân dân cùng cấp bổ sung nguồn vốn ủy thác cho vay theo quy định;

7. Đối với Quỹ dự phòng rủi ro địa phương đã trích lập theo quy định tại Thông tư số 73/2008/TT-BTC ngày 01 tháng 8 năm 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn lập, quản lý, sử dụng Quỹ giải quyết việc làm địa phương và kinh phí quản lý Quỹ quốc gia về việc làm được tiếp tục giao Ngân hàng Chính sách xã hội quản lý để xử lý rủi ro theo quy định.