vanban.org

Điều 5 — Pháp lệnh số 49L/CTN Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2011 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/06/2006 Thay thế: 64/2010/QH12 · 24/11/2010 Sửa đổi, bổ sung: 29/2006/PL-UBTVQH11 · 05/04/2006
Chủ tịch nước Ban hành 21/05/1996 Hiệu lực 01/07/1996 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 30 năm
Pháp lệnh số 49L/CTN Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996 · 49L/CTN
01/06/200629/2006/PL-UBTVQH11Sửa đổi, bổ sung Đang xem 05/01/199910/1998/PL-UBTVQH10Chưa hợp nhất 01/07/1996Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh 49L/CTN › Chương 1 › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5

Người khởi kiện phải làm đơn kiện theo quy định tại Điều 30 của Pháp lệnh này; có nghĩa vụ cung cấp bản sao quyết định hành chính, bản sao văn bản trả lời của cơ quan nhà nước hoặc người đã ra quyết định hành chính hay có hành vi hành chính về việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính mà người khởi kiện cho là trái pháp luật; cung cấp các chứng cứ khác để bảo vệ quyền lợi của mình.

Bên bị kiện có nghĩa vụ cung cấp cho Toà án bản sao văn bản quy phạm pháp luật cũng như bản sao các văn bản tài liệu khác mà căn cứ vào đó để ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền tham gia tố tụng với bên người khởi kiện, bên bị kiện hoặc tham gia tố tụng độc lập, có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình.

Khi cần thiết, Toà án có thể xác minh, thu thập chứng cứ hoặc yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan cung cấp tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính được chính xác. Đương sự, cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức được yêu cầu phải cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn theo yêu cầu của Toà án. Trong trường hợp không cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.