vanban.org

Điều 22 — Pháp lệnh số 49L/CTN Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2011 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/06/2006 Thay thế: 64/2010/QH12 · 24/11/2010 Sửa đổi, bổ sung: 29/2006/PL-UBTVQH11 · 05/04/2006
Chủ tịch nước Ban hành 21/05/1996 Hiệu lực 01/07/1996 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 30 năm
Pháp lệnh số 49L/CTN Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996 · 49L/CTN
01/06/200629/2006/PL-UBTVQH11Sửa đổi, bổ sung Đang xem 05/01/199910/1998/PL-UBTVQH10Chưa hợp nhất 01/07/1996Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh 49L/CTN › Chương 4 › Điều 22
Đọc toàn văn

Điều 22

1- Đương sự có thể uỷ quyền cho bất kỳ người nào đại diện cho mình tham gia tố tụng, trừ những người sau đây không được tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện do đương sự uỷ quyền:

a) Không có quốc tịch Việt Nam, không cư trú ở Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với đương sự có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài;

b) Chưa đủ 18 tuổi;

c) Bị bệnh tâm thần;

d) Đã bị khởi tố về hình sự hoặc bị kết án, nhưng chưa được xoá án;

đ) Cán bộ Toà án, Viện kiểm sát;

e) Người giám định, người phiên dịch, người làm chứng trong vụ án;

g) Người thân thích với Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên đang tham gia giải quyết vụ án.

2- Người được uỷ quyền chỉ được thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong phạm vi được uỷ quyền.

3- Việc uỷ quyền tham gia tố tụng phải làm thành văn bản và được chứng thực hợp pháp.