vanban.org

Điều 33 — Pháp lệnh số 49L/CTN Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2011 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/06/2006 Thay thế: 64/2010/QH12 · 24/11/2010 Sửa đổi, bổ sung: 29/2006/PL-UBTVQH11 · 05/04/2006
Chủ tịch nước Ban hành 21/05/1996 Hiệu lực 01/07/1996 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 30 năm
Pháp lệnh số 49L/CTN Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996 · 49L/CTN
01/06/200629/2006/PL-UBTVQH11Sửa đổi, bổ sung Đang xem 05/01/199910/1998/PL-UBTVQH10Chưa hợp nhất 01/07/1996Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh 49L/CTN › Chương 6 › Điều 33
Đọc toàn văn

Điều 33

1- Sau khi Toà án đã thụ lý vụ án, đương sự có quyền làm đơn yêu cầu Toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ lợi ích cấp thiết của đương sự, bảo đảm việc thi hành án; đương sự phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình, nếu có lỗi trong việc gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2- Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và phải chịu trách nhiệm về quyết định đó. Nếu do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái pháp luật mà gây thiệt hại, thì phải bồi thường.

Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được tiến hành ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án.

3- Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải được Toà án xem xét trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; nếu có đủ căn cứ pháp luật và xét thấy cần thiết chấp nhận yêu cầu, thì Toà án ra ngay quyết định áp dụng biện phép khẩn cấp tạm thời.

4- Trong quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải ghi rõ thời hạn có hiệu lực của quyết định, nhưng không được quá thời hạn giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.