vanban.org

Điều 34. Thông báo về thi hành án — Pháp lệnh số 13/2004/PL-UBTVQH11 Thi hành án dân sự

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2009 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/07/2009 Thay thế: 26/2008/QH12 · 14/11/2008
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Ban hành 14/01/2004 Hiệu lực 01/07/2004 Hết hiệu lực toàn bộ 44 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 3 đời pháp lệnh · 4 phiên bản · 36 năm
Pháp lệnh số 13/2004/PL-UBTVQH11 Thi hành án dân sự · 13/2004/PL-UBTVQH11
01/07/200926/2008/QH12Sửa đổi Đang xem 01/07/2004Bản gốcThay thế
Pháp lệnh số Không số Thi hành án dân sự 1993
Pháp lệnh số 23-LCT/HĐNN8 Thi hành án dân sự 1989 · 23-LCT/HĐNN8
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh 13/2004/PL-UBTVQH11 › Chương III › Điều 34
Đọc toàn văn

Điều 34. Thông báo về thi hành án

1. Các quyết định, giấy báo, giấy triệu tập về thi hành án phải được thông báo cho người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan.

Người được thông báo có nghĩa vụ nhận thông báo và chịu trách nhiệm về việc cố tình không nhận thông báo.

2. Việc thông báo được thực hiện bằng các hình thức sau đây:

a) Chấp hành viên, cán bộ thi hành án giao trực tiếp các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này cho người được thông báo. Trong trường hợp có khó khăn trong việc giao trực tiếp thì việc thông báo được thực hiện bằng thư bảo đảm qua đường bưu điện.

Nếu người được thông báo vắng mặt thì các giấy tờ về thi hành án được giao cho Thủ trưởng cơ quan nơi người đó công tác hoặc cán bộ tư pháp cấp xã hoặc người thân thích có năng lực hành vi dân sự đầy đủ cùng sống trong một gia đình nhận thay. Người nhận thay phải cam kết chuyển kịp thời, đúng thời gian quy định đến tận tay cho người được thông báo. Việc giao, nhận thông báo phải được ký xác nhận;

b) Trong trường hợp không thể thực hiện được việc thông báo quy định tại điểm a khoản này thì phải niêm yết công khai bản chính thông báo tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được thông báo và tại nơi ở của người được thông báo nếu xác định được nơi ở cụ thể của người đó.

Việc niêm yết công khai phải được lập biên bản, ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết, nội dung thông báo và người thực hiện niêm yết, có xác nhận của chính quyền địa phương;

c) Trong trường hợp không thể thực hiện việc thông báo theo quy định tại điểm a khoản này hoặc việc niêm yết công khai theo quy định tại điểm b khoản này không có kết quả thì thông báo liên tiếp hai lần trên báo, đài phát thanh hoặc đài truyền hình của trung ương hoặc của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nếu xác định đương sự đang ở tại địa phương đó.

Khi thực hiện việc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, cơ quan báo, đài phải có văn bản xác nhận đã thực hiện xong việc thông báo và gửi Cơ quan thi hành án để lưu hồ sơ thi hành án.

3. Người có nghĩa vụ thực hiện việc thông báo không làm đúng trách nhiệm của mình thì tuỳ theo mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra mà có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

4. Các quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.