- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn N - phạm tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (điều 285 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1]. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn N, kháng cáo của các bị hại bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H và kháng cáo của ng i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N2.
- Căn cứ chính? Điều 285 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 258/2023/HS-PT Ngày: 17/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
ông Phạm Văn Hợp
Các Thẩm phán:
ông Phạm Việt Cường
ông Nguyễn Tấn Long
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Văn Phong, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Trần Đức Dương, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo Đặng Văn N về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Do có kháng cáo của bị cáo; ng i bị hại là bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H; ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N2 đối với Bản án hình sự s thẩm số 119 2022 HSST ngày 25 11 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Bị cáo có kháng cáo:
Đặng Văn N, sinh năm 1962, tại tỉnh Thanh Hóa; n i đăng ký HKTT và chỗ ở: số B N, ph ng T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Chấp hành viên; trình độ học vấn: 12 12; là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam; con ông Đặng Văn C và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); vợ Bùi Thị L và có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20 5 2016 đến ngày 06 3 2017 đ ợc thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi n i c trú, có mặt.
- Ng i bào chữa cho bị cáo: Luật s Thái Thị Huỳnh M, Công ty L2, Đoàn luật s Thành phố H; Địa chỉ: Tầng G, Tòa nhà C, số F, T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
- Ng i bị hại:
1. Vợ chồng bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1973, ông Thái Trung H1 (tên gọi khác Thái Trọng H2); cùng địa chỉ: Số C H, ph ng T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Ông H2 ủy quyền cho bà H tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 14 8 2018), có mặt.
2. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1957; địa chỉ: Số E T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
3. Vợ chồng bà Lê Thị Q, sinh năm 1959, ông Lê Thanh T1, sinh năm 1954; cùng địa chỉ: B17 T, ph ng T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
4. Bà Vũ Thị Thúy Thu H3, sinh năm 1960; địa chỉ: Số C N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
5. Bà Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1969; địa chỉ: Số A Đ, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
6. Ông Nguyễn Mạnh H4, sinh năm 1968; n i ĐKHKTT: Số I phố H, Quận H, Tp Hà Nội. Chỗ ở: Số A T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
7. Vợ chồng bà Lê Thị Thu H5, sinh năm 1959, ông Lê Văn T3, sinh năm 1955; địa chỉ: Số A Y, ph ng T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
- Bị đ n dân sự: Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ trụ sở: số B H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
- Ng i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị N2; có mặt.
2. Ông Lại Nguyên T4; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: ngõ F, hẻm C, tỉnh lộ 8, khối G, ph ng T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
3. Ông Vũ Đức V, sinh năm 1955; địa chỉ: Số F L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
4. Vợ chồng ông Mai T5, sinh năm 1955, bà Nguyễn Thị Thu H6, sinh năm 1969; cùng địa chỉ: Số D P, khối A, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
5. Ông Trần Quốc S, sinh năm 1957; địa chỉ: Số E T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
6. Ngân hàng N3 – Chi nhánh Đ. Địa chỉ: Số E N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
7. Bà Nguyễn Thị L1; trú tại: T, xã A, Thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt.
8. Chị Vũ Bích H7; trú tại: T, xã A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt
9. Cháu Vũ Thu H8, sinh ngày 10 6 2008; trú tại: T, xã A, Thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt.
Ng i đại diện hợp pháp cho cháu H8: Bà Nguyễn Thị L1; trú tại: T, xã A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung và quá trình giải quyết vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Đặng Văn N là Chấp hành viên, giữ chức vụ Phó Thủ tr ởng C quan Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột), đ ợc phân công tổ chức thi hành 06 Quyết định thi hành án, gồm:
1. Quyết định thi hành án số 1256 QĐ-THA ngày 01 4 2008 của C quan Thi hành án dân sự (C quan THADS) thành phố B, thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đ ng sự số 36 2008 QĐST-DS, ngày 07 3 2008 của Tòa án nhân dân (TAND) thành phố B, buộc bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1954, địa chỉ: K, ph ng T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk phải trả vợ chồng ông Lê Thanh T1, sinh năm 1954 và bà Lê Thị Q, sinh năm 1959, địa chỉ: B17 T, ph ng T, thành phố B số tiền 186.385.000 đồng.
2. Quyết định thi hành án số 1260 QĐ-THA ngày 01 4 2008 của C quan THADS thành phố Buôn Ma T6, thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đ ng sự số 03 2007 QĐST-DS, ngày 28 12 2007 của TAND thành phố Buôn Ma Thuột, buộc bà Nguyễn Thị N2 phải trả bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1957, địa chỉ: B N, ph ng T, thành phố B số tiền 1.004.500.000 đồng.
3. Quyết định thi hành án số 2487 QĐ-THA ngày 15 9 2008 của C quan THADS thành phố Buôn Ma Thuột, thi hành Bản án số 111 2008 DSPT ngày 29 8 2008 của TAND tỉnh Đắk Lắk, buộc bà Nguyễn Thị N2 phải trả bà Vũ Thị Thúy Thu H3, sinh năm 1960, địa chỉ: C N, ph ng T, thành phố B số tiền 962.922.000 đồng.
4. Quyết định thi hành án số 2505 QĐ-THA ngày 19 9 2008 của C quan THADS thành phố Buôn Ma Thuột, thi hành Bản án số 67 2008 DSST ngày 10 7 2008 của TAND thành phố Buôn Ma Thuột, buộc bà Nguyễn Thị N2 phải trả bà Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1969, địa chỉ: 1 Đ, thành phố B số tiền 479.433.000 đồng.
5. Quyết định thi hành án số 253 QĐ-THA ngày 29 10 2008 của C quan THADS thành phố Buôn Ma T6, thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đ ng sự số 139 2008 QĐST-DS, ngày 22 10 2008 của TAND thành phố Buôn Ma Thuột, buộc bà Nguyễn Thị N2 phải trả ông Nguyễn Mạnh H4, địa chỉ: Số I H, quận H, thành phố Hà Nội số tiền 3.500.000.000 đồng.
6. Quyết định thi hành án số 2283 QĐ-THA ngày 28 8 2009 của C quan THADS thành phố Buôn Ma Thuột, thi hành Bản án số 86 2009 DSPT, ngày 20 7 2009 của TAND tỉnh Đắk Lắk, buộc bà Nguyễn Thị N2 phải trả bà Lê Thị Thu H5, sinh năm 1959, địa chỉ: A L, ph ng T, thành phố B số tiền 881.447.000 đồng .
Theo nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì quá trình tổ chức thi hành các quyết định thi hành án trên, do thiếu trách nhiệm, Đặng Văn N đã không thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ đ ợc giao, gây thiệt hại cho ng i đ ợc thi hành án và ng i có quyền lợi liên quan, cụ thể nh sau:
1. Hành vi thiếu trách nhiệm trong việc ban hành các văn bản giải tỏa ngăn chặn tài sản.
Khi đ ợc phân công tổ chức thi hành Quyết định thi hành án số 1256 QĐ-THA và số 1260 QĐ-THA cùng ngày 01 4 2008, ngay sau đó vào ngày 02/4/2008, Đặng Văn N đã ban hành Công văn số 1780 CV-THA để ngăn chặn việc giao dịch các tài sản của bà Nguyễn Thị N2.
Đối với các tài sản là nhà, đất tại số B đ ng P, thành phố B (sau này gọi tắt là số 266 2 P) và số B đ ng S, ph ng T, thành phố B (sau này gọi tắt là số 20-22 S) của bà Nguyễn Thị N2, tr ớc ngày Đặng Văn N ban hành Công văn số 1780/CV-THA ngày 02 4 2008 để ngăn chặn giao dịch tài sản, thì bà N2 đã lập các hợp đồng chuyển nh ợng cùng ngày 18 3 2008, chuyển nh ợng nhà, đất tại số B P cho ông Trần Quốc S và chuyển nh ợng nhà, đất tại số B S cho vợ chồng ông Mai T5 và bà Nguyễn Thị Thu H6. Vì cho rằng bà N2 đ ợc phép chuyển nh ợng các tài sản nhà, đất trên nên ngày 17 4 2008, N ban hành công văn số 1924/CV-THA thu hồi một phần biện pháp ngăn chặn, đề nghị các c quan chức năng "tạo điều kiện thuận lợi" cho ông S và vợ chồng ông T5, bà H6 làm thủ tục đăng ký sang tên tr ớc bạ các tài sản trên. Trên c sở đó, ông S và vợ chồng ông T5, bà H6 đã hoàn tất các thủ tục đăng ký sang tên tài sản (bút lục 104, 559). Theo quy định tại khoản 1 mục IV Thông t liên tịch số 12 2001 TTLT-BTP-VKSNDTC ngày 26 02 2001 của Bộ T pháp - Viện kiểm sát nhân dân tối cao h ớng dẫn thực hiện một số quy định pháp luật về thi hành án dân sự, thì: “Đối với các tr ng hợp sau khi có bản án, quyết định của Toà án, ng i phải thi hành án đã chuyển nh ợng các tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, thì Chấp hành viên có quyền kê biên tài sản đó và có văn bản đề nghị c quan có thẩm quyền huỷ bỏ giao dịch đó. Ng i đ ợc thi hành án, ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu c quan có thẩm quyền hoặc khởi kiện yêu cầu Toà án huỷ bỏ giao dịch đó.”. Tuy đã có văn bản ngăn chặn ng i phải thi hành án là bà N2 giao dịch tài sản để phục vụ cho việc thi hành các bản án, quyết định dân sự, nh ng sau đó Đặng Văn N đã thu hồi việc ngăn chặn một cách trái quy định, dẫn đến ng i phải thi hành án đã chuyển nh ợng đ ợc tài sản mà theo quy định của pháp luật về thi hành án phải đ ợc kê biên bảo đảm thi hành án, dẫn tới gây thiệt hại quyền lợi của những ng i đ ợc thi hành án.
Đến ngày 10 4 2008, Đặng Văn N ban hành Công văn số 1856/CV-THA đề nghị ngăn chặn giao dịch tài sản tại địa chỉ E đ ng N, ph ng T, thành phố B (sau này gọi tắt là số E10-E12 Ngô Quyền) cũng nh các tài sản khác của bà N2. Từ ngày 18 4 2008 đến ngày 28 4 2008, Đặng Văn N thực hiện xác minh nhà, đất tại số E N, qua đó xác định đ ợc, thửa đất E12 Ngô Quyền đ ợc UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N2; thửa đất E10 Ngô Quyền đ ợc UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lại Nguyên T4 (con trai bà N2). Nhà, đất tại số E N đã đ ợc bà N2 và ông T4 thế chấp cho Ngân hàng N3 chi nhánh Đ (sau này gọi tắt là Ngân hàng N3 chi nhánh Đ) từ ngày 24 01 2006 để bảo lãnh cho Công ty TNHH T9 vay 2.800.000.000 đồng. Đến hạn, Công ty TNHH T9 không trả đ ợc nợ, Ngân hàng N3 chi nhánh Đ đã khởi kiện ra TAND tỉnh Đắk Lắk và đ ợc TAND tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đ ng sự số 55 2007 QĐST-KDTM ngày 27 8 2007, buộc Công ty TNHH T9 phải trả số nợ 3.164.423.333đồng cho Ngân hàng N3 chi nhánh Đ. C quan THADS tỉnh Đ đã ra quyết định thi hành án theo đ n yêu cầu, tiến hành kê biên tài sản nhà, đất tại số E N và xác định giá khởi điểm là 6.972.390.000 đồng nh ng vẫn ch a bán đ ợc vì không có ng i mua.
Sau đó, Đặng Văn N tiếp tục đ ợc phân công tổ chức thi hành các Quyết định thi hành án số 2487 ngày 15 9 2008; Quyết định thi hành án số 2505 ngày 19 9 2008; Quyết định thi hành án số 253 ngày 29 10 2008 và Quyết định thi hành án số 2283 ngày 28 8 2009. Tuy biết đ ợc tài sản là nhà, đất tại số E N đang đ ợc C quan THADS tỉnh Đ kê biên, có giá trị lớn h n toàn bộ nghĩa vụ đã đ ợc bảo đảm theo hợp đồng thế chấp và những ng i đ ợc thi hành án là bà Vũ Thị Thúy Thu H3 và bà Nguyễn Thị Thu T2 đề nghị kê biên tài sản này, nh ng Đặng Văn N lại không ra quyết định áp dụng biện pháp c ỡng chế kê biên đối với phần giá trị tài sản lớn h n và cũng không có công văn trao đổi với C quan THADS tỉnh Đ. Theo quy định tại khoản 1 mục IV Thông t liên tịch số 12 2001 TTLT-BTP-VKSNDTC ngày 26 02 2001, thì: “Đối với tài sản của ng i phải thi hành án đã đ ợc thế chấp, cầm cố hợp pháp trong các giao dịch dân sự, nếu không có tài sản nào khác và tài sản đó có giá trị lớn h n toàn bộ nghĩa vụ đã đ ợc bảo đảm theo hợp đồng thế chấp, cầm cố, kể cả các chi phí liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố cộng với chi phí cho việc kê biên, bán đấu giá tài sản, thì chấp hành viên có thể kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án mặc dù hợp đồng thế chấp, cầm cố ch a đến hạn, nh ng tr ớc khi kê biên tài sản Chấp hành viên phải thông báo cho ng i nhận thế chấp, cầm cố biết.”
Do C quan THADS tỉnh Đ không bán đ ợc tài sản bán đấu giá là nhà, đất tại số E N nên ngày 30 6 2009 đã ra quyết định trả lại đ n yêu cầu thi hành án và giải toả việc kê biên tài sản.
Đến ngày 04 6 2010, Đặng Văn N ban hành Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án số 79 QĐ-THA (thay thế Công văn số 1780 CV-THA ngày 02 4 2008 và số Công văn số 1856 CV-THA ngày 10 4 2008) để ngăn chặn bà Nguyễn Thị N2 tẩu tán nhà, đất tại số E N Tuy nhiên, đến ngày 28 6 2010, N lại ban hành Quyết định số 84 QĐ-THA thu hồi Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án số 79 QĐ-THA. Sau một th i gian ngắn, đến ngày 15 7 2010 bà N2 đã ký hợp đồng chuyển nh ợng nhà, đất tại số E N cho vợ chồng ông Lê Văn T3 và bà Lê Thị Thu H5. Bà Lê Thị Thu H5 thừa nhận đã nhận chuyển nh ợng nhà và đất tại E10-E12 Ngô Quyền của bà N2 và ông T4 với giá ghi trong hợp đồng là 400.000.000 đồng nh ng giá thực tế thanh toán là 5.160.000.000 đồng. Bà H5 đã đ a 3.499.999.999 đồng cho ông Lê K (con trai bà H5) mang đến Ngân hàng N3 chi nhánh Đ nộp cùng với bà N2 để lấy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại ngân hàng ra để làm thủ tục sang tên, phần tiền còn lại đã trả trực tiếp cho bà N2. Tuy nhiên, số tiền này không đ ợc bà N2 thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
Kết quả điều tra xác định: Nhà, đất tại số B S có tổng diện tích 210m2, đ ợc UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4001030493 ngày 13 6 2002 và số 4001030223 ngày 23 5 2003 cho bà N2. Ngày 18 3 2008, bà N2 chuyển nh ợng cho vợ chồng ông Mai T5, bà Nguyễn Thị Thu H6 theo 02 hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 49, 50, lập tại Phòng công chứng số A tỉnh Đắk Lắk, với giá ghi trong hợp đồng là 600.000.000 đồng, nh ng giá thực tế thanh toán là 4.300.000.000 đồng.
Nhà và đất tại 266 2 Phan Bội C1 có diện tích 55,10m2, đ ợc UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB509757 ngày 17 01 2005 cho bà N2. Ngày 18 3 2008, bà N2 chuyển nh ợng cho ông Trần Quốc S theo hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 45, lập tại Phòng công chứng số A tỉnh Đắk Lắk, với giá ghi trong hợp đồng là 400.000.000 đồng, nh ng giá thực tế thanh toán là 670.000.000 đồng .
Kết luận định giá tài sản số 1098 KL-ĐGTS ngày 27 4 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đắk Lắk xác định: Giá trị nhà và đất tại 2 S là 600.000.000 đồng; nhà và đất tại 266 2 Phan Bội C1 là 400.000.000 đồng; nhà và đất tại E Ngô Quyền là 6.500.000.000 đồng.
Việc ban hành các quyết định, văn bản giải toả, thu hồi biện pháp ngăn chặn giao dịch tài sản của ng i phải thi hành án không đúng pháp luật nêu trên của Đặng Văn N, dẫn đến bà Nguyễn Thị N2 đã chuyển nh ợng tài sản phải đ ợc kê biên để làm tài sản thi hành án, gây thiệt hại đến quyền lợi của những ng i đ ợc thi hành án gồm các ông, bà: Nguyễn Thị N1, Lê Thanh T1, Nguyễn Thị Thu T2, Nguyễn Mạnh H4, Vũ Thị Thúy Thu H3 và Lê Thị Thu H5. Cụ thể nh sau: Đặng Văn N ban hành Công văn số 1924 CV-THA ngày 17 4 2008 dẫn đến bà N2 chuyển nh ợng tài sản tại 2 P (định giá 400.000.000 đồng) và 20-22 S ng Nguyệt Á (định giá 600.000.000 đồng). Ban hành Quyết định số 84 QĐ-THA ngày 28 6 2010 dẫn đến bà N2 chuyển nh ợng tài sản tại E N (định giá 6.500.000.000 đồng). Th i điểm này, bà N2 phải thi hành nghĩa vụ trả (1) vợ chồng ông Lê Thanh T1, bà Lê Thị Q 186.385.000đồng; (2) trả bà Nguyễn Thị N1 1.004.500.000đồng; (3) trả bà Vũ Thị Thúy Thu H3 962.922.000đồng; (4) trả bà Nguyễn Thị Thu T2 479.433.000đồng; (5) trả ông Nguyễn Mạnh H4 3.500.000.000đồng; (6) trả bà Lê Thị Thu H5 881.447.000đồng. Trong đó, tài sản nhà, đất tại số E N, bà N2 và ông T4 thế chấp tài sản này cho ngân hàng tr ớc khi có bản án nên trừ 3.500.000.000 đồng trả ngân hàng, còn lại 3.000.000.000 đồng, bà N2 chỉ sở hữu nhà và đất tại E Ngô Quyền nên đ ợc h ởng 1.500.000.000 đồng. Do vậy, tổng giá trị tài sản mà Đặng Văn N gây thiệt hại là 2.500.000.000đồng (400.000.000đồng + 600.000.000đồng + 1.500.000.000đồng). N đã sử dụng số tiền thu đ ợc từ việc bán đấu giá tài sản nhà và đất tại 12 Trần Quang K1 để chi trả chi phí c ỡng chế, nộp thuế với số tiền 192.725.000đồng, chi trả cho 06 ng i đ ợc thi hành án với số tiền 959.214.300đồng, nên thiệt hại do N gây ra cho 06 ng i đ ợc thi hành án còn lại là 1.348.060.700đồng (2.500.00.000đồng – 959.214.300đồng – 192.725.000đồng).
Hành vi nêu trên của Đặng Văn N đã vi phạm quy định tại khoản 1 mục IV Thông t liên tịch số 12 2001 TTLT-BTP-VKSNDTC ngày 26 02 2001. Đặng Văn N lúc đầu thừa nhận do nhận thức không đúng về th i điểm có hiệu lực pháp luật của các Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đ ng sự và ch a nắm đ ợc đầy đủ việc thế chấp tài sản vay tiền tại ngân hàng của bà N2 nên ban hành các Công văn số 1924 CV-THA ngày 17 4 2008 và Quyết định số 84 QĐ-THA ngày 28 6 2010 để giải tỏa ngăn chặn tài sản. Sau đó, N có nhiều đ n khiếu nại không thừa nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên, trên c sở quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên và các chứng cứ đã thu thập đ ợc trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ c sở xác định hành vi thiếu trách nhiệm của bị can, khẳng định đ ợc việc bị can chối tội là không có căn cứ.
2. Hành vi thiếu trách nhiệm trong thực hiện việc kê biên, bán đấu giá nhà và đất tại số A T, ph ng T.
Thửa đất tại số A đ ng T, ph ng T, thành phố B (sau này gọi tắt là số 12 Trần Quang K1), có nguồn gốc, nh sau: Ngày 25 12 1982, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ cấp Giấy cho sử dụng đất số 337 SDĐ, cấp cho ông Vũ Đức V (Trung uý, công tác tại Bộ Chỉ huy) một lô đất có diện tích 800m2 thuộc khu vực sân bay L (nay gồm các lô đất địa chỉ tại số nhà F, 62A, 62B đ ng Lê Thánh Tông; số nhà A, 14, 16 đ ng T và số 03, 05, 09, 11 đ ng N, ph ng T).
Ngày 20 11 1991, ông Vũ Đức V sang nh ợng cho ông Vũ Xuân H9 (sinh 1967, trú tại A, Y, Tuyên Quang - em ruột ông V, đã chết năm 2011) 80m2 đất trong diện tích đất đ ợc cấp nêu trên (có vị trí hiện tại là số 12 Trần Quang K1), giấy sang nh ợng đ ợc UBND ph ng T xác nhận ngày 24 11 1991. Nh ng do ông H9 về quê, lô đất trên để trống không sử dụng, nên giữa ông V, ông H9 và bà Nguyễn Thị N2 có lập một văn bản thoả thuận, nội dung thống nhất để ông V chuyển nh ợng lô đất này cho bà N2 (văn bản đề ngày 20 11 1991). Thực hiện thoả thuận, sau đó ông V viết giấy sang nh ợng đất tại số A T cho bà N2 với giá 10 triệu đồng và đề ngày viết giấy là 20 11 1991. Giấy sang nh ợng này cũng đ ợc UBND ph ng T xác nhận ngày 24 11 1991. Bà N2 đã giao đủ tiền cho ông V.
Ngày 18 12 1991, bà Nguyễn Thị N2 viết giấy sang nh ợng đất tại số A T cho ông Thái Trọng H2 với giá 05 cây vàng, đ ợc UBND ph ng T xác nhận ngày 20 12 1991. Ông H2 đã giao đủ số vàng cho bà N2 và đ ợc bà N2 giao cho toàn bộ lô đất.
Năm 1996, ông Thái Trọng H2 đổi tên lót thành T7 Trung Hậu nên đề nghị bà N2 cùng đến UBND ph ng T làm lại hợp đồng sang nh ợng đất để đúng với tên mới. Ngày 12 12 1996, bà N2 và ông H2 lập Hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất, trong hợp đồng có bổ sung thêm bà Nguyễn Thị H (vợ ông H2) vào bên nhận chuyển nh ợng, hợp đồng đ ợc UBND ph ng T xác nhận cùng ngày.
Từ khi nhận sang nh ợng đất của bà N2, ông H2 không sử dụng nên bị bà Đỗ Thị Minh H10 lấn chiếm và tự ý sử dụng làm bãi rửa xe. Ngày 18 02 2003, ông H2 và bà N2 thống nhất và lập Giấy thoả thuận đòi đất Trần Quang K1, với nội dung bà N2 sẽ đứng ra đòi hộ đất cho ông H2, nếu bà N2 đòi đ ợc đất thì ông H2 sẽ đ a cho bà N2 100 triệu đồng để xây nhà, cam kết cho bà N2 ở nh và giữ đất trong 10 năm không phải trả tiền, nếu ông H2 đòi lại nhà, đất tr ớc hạn 10 năm thì phải hỗ trợ cho bà N2 50 triệu đồng để chuyển đi n i khác. Bà N2 chỉ đ ợc ở, không đ ợc bán nhà và đất của ông H2. Sau đó, bà N2 đã làm đ n ra ph ng T và đòi đ ợc đất. Ngày 07 5 2005, bà Nguyễn Thị H (vợ ông H2) đ a cho bà N2 100.000.000đồng để bà N2 làm nhà, hai bên có viết Giấy nhận tiền.
Trong quá trình sinh sống, làm ăn, bà N2 vay tiền của nhiều ng i và có sử dụng Giấy sang nh ợng đất thổ c thửa đất tại số A T (sang nh ợng từ ông V cho bà N2) thế chấp cho bà Lê Thị Thu H5 và ông Nguyễn Mạnh H4. Vì không trả đ ợc nợ nên bà N2 bị khởi kiện dân sự đòi tiền.
Thực hiện nhiệm vụ tổ chức thi hành Quyết định thi hành án số 1256 QĐ-THA và số 1260 QĐ-THA ngày 01 4 2008, ngày 18 4 2008, Đặng Văn N tiến hành xác minh tại UBND ph ng T, đ ợc cung cấp thông tin: Bà N2 có 01 lô đất tại A T, nhận chuyển nh ợng của ông Vũ Đức V ngày 20 11 1991, diện tích 80m2, đ ợc UBND ph ng T xác nhận nh ng ch a đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất nằm trong quy hoạch xây dựng nhà cao tầng, mở đ ng; các c quan chức năng đang xem xét nguồn gốc đất cấp ông V cũng nh việc chuyển nh ợng đất giữa ông V và bà N2 có hợp pháp hay không. Chỉ với kết quả xác minh này, ngày 12 9 2008, bị can N đã ra Quyết định số 61 QĐ-THA kê biên "Quyền sử dụng đất tại giấy sang nh ợng đất thổ c đề ngày 20 11 1991 đã đ ợc Ủy ban nhân dân ph ng T xác nhận ngày 24 11 1991. Lô đất tại thửa đất số 29, t bản đồ số 14, diện tích 120,3m2 (diện tích trong quy hoạch 46,9m2) và tài sản gắn liền trên đất". Quyết định kê biên này không đ ợc niêm yết công khai tại UBND ph ng T, do đó ông Thái Trung H1 và những ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không biết C quan THADS đang kê biên thửa đất này. Ngày 18 9 2008, bà N2 đã đề nghị hoãn kê biên tài sản này để ch bán tài sản tại E Ngô Quyền sẽ trả cho ng i đ ợc thi hành án.
Sau đó, ngày 12 11 2008 và ngày 04 12 2008, Đặng Văn N tiếp tục xác minh tại các c quan, gồm: UBND ph ng T; Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố B và Công an thành phố B, đ ợc cung cấp thông tin: Thửa đất tại A T tr ớc đây của ông V, ngày 20 11 1991 ông V chuyển nh ợng cho bà N2, hiện thửa đất nằm trong quy hoạch xây dựng nhà cao tầng của thành phố nên việc mua bán, sang nh ợng không thể thực hiện đ ợc, UBND thành phố B không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ có nguồn gốc nhận chuyển nh ợng của ông V. Công an thành phố đang điều tra làm rõ việc sửa chữa quyết định cấp đất, việc sang nh ợng đất giữa ông V và bà N2 có hợp pháp hay không nh ng ch a có kết quả.
Mặc dù kết quả xác minh trên ch a đủ c sở xác định bà N2 là chủ sử dụng, chủ sở hữu tài sản nhà, đất tại số A T, nh ng ngày 26 12 2008, Đặng Văn N tiếp tục ra Quyết định kê biên số 28 QĐ-THA, kê biên toàn bộ tài sản này (th i điểm này Quyết định kê biên số 61 ngày 12 9 2008 vẫn đang có hiệu lực) và cũng không thực hiện các thủ tục thông báo việc kê biên cho các đ ng sự, không niêm yết công khai quyết định kê biên tại UBND ph ng T.
Ngày 31 12 2008, Hội đồng c ỡng chế thi hành án tiến hành lập Biên bản kê biên tài sản là nhà, đất tại số A T, bà N2 có tham gia nh ng không có ý kiến gì, sau đó thì ký tên trong biên bản với t cách là ng i có tài sản phải thi hành án. Ngày 16 6 2009, Công an thành phố B có bản kết thúc điều tra số 045 BKTĐT-KT, xác định ông V có chuyển nh ợng cho bà N2 80m2 đất nh ng giấy chuyển nh ợng đất của ông V với bà N2 lập ngày 20 11 1991 là giả mạo. Tuy biết kết quả điều tra, nh ng N vẫn không xác minh để làm rõ mà tiến hành ký hợp đồng thẩm định giá số 117 HD-CIVS-ĐL ngày 25 3 2010 với Công ty Cổ phần thông tin và thẩm định giá miền T, Chứng th thẩm định giá số 10/03/113/TS-ĐL, xác định giá trị quyền sử dụng đất và công trình xây dựng tại số 12 Trần Quang K1 tại th i điểm 03 2010 là 1.770.839.000 đồng.
Ngày 07 4 2010, Đặng Văn N ký Hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản số 116-HĐUQ với Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Đ để bán tài sản. Ngày 18 5 2010, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Đ đã bán đấu giá thành với giá 1.781.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Thu T2.
Ngày 30 7 2010, Chi cục T10 hánh án dân sự thành phố B ra Quyết định c ỡng chế giao nhà số 91 QĐ-THA, giao nhà, đất tại số A T cho bà Nguyễn Thị Thu T2. Ngày 05 8 2010, Chi cục THADS thành phố B tổ chức c ỡng chế và lập Biên bản giao, nhận tài sản thi hành án, bà N2 có tham gia và thống nhất ký tên trong biên bản với t cách là ng i phải thi hành án.
Đến ngày 20 8 2012, UBND thành phố B có Quyết định số 232 QĐ-UBND cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T2. Ngày 29 8 2012, bà T2 chuyển nh ợng cho bà Phạm Thị Lệ Hà
Tháng 7 2012, ông T7 Trung Hậu biết đ ợc thông tin nhà, đất tại số A T đã bị kê biên, bán đấu giá để thi hành các khoản nợ của bà N2, vợ chồng ông H1 đã có đ n đề nghị, khiếu nại, khởi kiện gửi đến các c quan chức năng, nh ng không đ ợc giải quyết. Ngày 05 3 2015, bà Nguyễn Thị H có đ n tố cáo hành vi vi phạm trong kê biên, bán đấu giá tài sản nhà, đất tại số A T gửi C quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Số tiền thu đ ợc từ bán đấu giá tài sản nhà, đất tại số A T, sau khi trừ chi phí thi hành án, nộp thuế và án phí, còn lại 959.214.300đồng, N chi trả cho 6 ng i đ ợc thi hành án: Bà N1 nhận 111.718.172đồng, ông T1, bà Q 31.377.263đồng, bà T2 70.213.702đồng, ông H4 506.687.755đồng, bà H4 141.186.897đồng, bà H5 98.030.511đồng. Ngày 06 9 2012, xác minh bà N2 không còn tài sản, N ra các quyết định trả lại đ n yêu cầu thi hành án.
Quá trình điều tra, bà N2 thừa nhận đã chuyển nh ợng nhà đất tại 12 Trần Quang K1 cho ông T7 Trung Hậu nh đã nêu trên. Đến năm 2008, bà N2 xây xong nhà để giữ đất cho ông H1 thì bị c quan thi hành án ra quyết định kê biên. Quá trình thi hành án, Đặng Văn N không làm việc với bà N2 để xác minh về tài sản này nên bà N2 không có trách nhiệm phải thông báo cho N biết việc đã chuyển nh ợng đất cho ông H1. L i khai của bà N2 phù hợp với l i khai của ông H1, bà H về quá trình chuyển nh ợng, sử dụng nhà và đất 12 Trần Quang K1 từ năm 1991 đến năm 2008. Ngoài ra, ông H1 và bà H còn cung cấp các tài liệu khác liên quan đến việc chuyển nh ợng đất nh : Bản gốc Hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất đề ngày 12 12 1996 có xác nhận của UBND ph ng T; đ n xin chuyển nh ợng quyền sử dụng đất đề ngày 25 10 1996; Giấy xác nhận quyền sử dụng đất thổ c và quyền sở hữu nhà ở, đề ngày 18 12 1991; Bản thỏa thuận đòi đất ngày 18 2 2003; giấy nhận tiền ngày 07 5 2005.
Nh vậy, tại th i điểm Đặng Văn N ra quyết định kê biên, mặc dù ông H1 và bà H ch a đ ợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại A T nh ng căn cứ vào nguồn gốc sử dụng đất (đất do nhà n ớc cấp); các tài liệu liên quan đến việc chuyển nh ợng đất giữa bà N2 và ông H1, bà H; Kết luận giám định số 111 GĐKTHS-P11 ngày 15 6 2017 của Phòng giám định kỹ thuật hình sự, Bộ Q1; l i khai của ông V; l i khai của bà N2 và ông H1, bà H thừa nhận việc chuyển nh ợng đất từ năm 1991, đủ căn cứ xác định thửa đất này không có tranh chấp, đ ợc chuyển nh ợng trên c sở tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đ ợc UBND ph ng T chứng thực. Căn cứ điểm 2.2, 2.3, mục 2 Nghị quyết số 02 2004 NQ-HĐTP ngày 10 8 2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao h ớng dẫn áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, đủ c sở xác định nhà, đất tại số A T đã đ ợc chuyển nh ợng hợp pháp cho ông H1 nên không còn thuộc quyền sử dụng và sở hữu của bà N2, bà N2 không có quyền định đoạt tài sản này.
Bà N2 đ ợc vợ chồng ông H1 tin t ởng cho ở nh để trông coi đất tại số A T. Tuy không phải là ng i có quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền với đất tại số A T, nh ng trong suốt th i gian dài, liên tục, kể từ tháng 12 2008 khi bắt đầu xử lý tài sản thi hành án, cho đến tháng 02 2011 khi khởi kiện việc thi hành án trên, bà N2 đã có sự gian dối, giấu diếm không thông báo cho vợ chồng ông H1, bà H việc tài sản mà bà N2 đang ở nh của vợ chồng ông H1 đã bị kê biên, bán đấu giá và giao cho ng i mua qua đấu giá; tìm cách lừa dối để làm trái thoả thuận vào năm 2003 khi cam kết chỉ đ ợc ở để trông coi đất, không đ ợc dịch chuyển nhà, đất trái phép. Bên cạnh đó, bà N2 không trung thực, không trình bày, khai báo với các c quan chức năng về việc tài sản bị kê biên, bán đấu giá và giao cho ng i mua qua đấu giá không thuộc quyền sở hữu của mình. Hành vi gian dối đ ợc thể hiện rõ h n khi th i gian đầu, bà N2 thực hiện việc im lặng để mặc nhiên thừa nhận nhà, đất tại số A T là của mình, tự ý thực hiện các quyền của chủ sở hữu và dùng tài sản này để thi hành án trả các khoản nợ của bản thân; sau này, khi việc bán đấu giá không đ ợc nh mong muốn, bà N2 còn quyết liệt h n khi thực hiện việc khiếu nại, khởi kiện liên quan đến nhà, đất để đòi quyền lợi cho mình.
Hậu quả từ việc gian dối của bà N2 làm nhà, đất tại số A T bị đem ra thi hành trả các khoản nợ cho bà N2, gây thiệt hại cho vợ chồng ông H1. Trị giá tài sản tại th i điểm bán cho ng i trúng đấu giá là 1.781.000.000 đồng.
Đã có đủ c sở để xác định sau khi đ ợc tin t ởng giao nhà, đất tại số A T nh trông coi, bà N2 đã có hành vi gian dối, chiếm đoạt tài sản này của vợ chồng ông T7 Trung Hậu để sử dụng vào việc thi hành trả các khoản nợ của bản thân một cách trái pháp luật. Hành vi đã có dấu hiệu của tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nên Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 01 QĐ-VKSTC-V6 và chuyển phần nội dung có liên quan đến C quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao để điều tra, giải quyết theo quy định của pháp luật. Bà N2 phải có trách nhiệm về tài sản mà mình đã lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt.
Đối với việc thực hiện nhiệm vụ trong quá trình thi hành án dân sự đối với nhà, đất tại số A T của bị can Đặng Văn N, trong quá trình điều tra, bị can N không thừa nhận hành vi phạm tội, cho rằng khi ra quyết định kê biên đã căn cứ kết quả xác minh tại UBND ph ng T; Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố B; Công an thành phố B và các tài liệu do ông Nguyễn Mạnh H4 cung cấp là đúng pháp luật. Tuy nhiên, C quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao xác định: Đối chiếu với quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, thì khi thực hiện việc kê biên, bán đấu giá tài sản là nhà, đất tại số A T, Đặng Văn N đã không thực hiện đúng quy định của trình tự nghiệp vụ, thủ tục thi hành án, không thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của Chấp hành viên khi giải quyết vụ việc, gồm: Không thông báo việc kê biên cho các đ ng sự, ng i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; không niêm yết công khai quyết định kê biên tài sản (vi phạm Điều 9, 34 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004; Điều 39 Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Điều 11 Nghị định số 164 2004 NĐ-CP ngày 14 9 2004 về kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất để bảo đảm thi hành án); không kiểm tra, xác minh thông tin khi đã có những thông tin nghi ng về tính pháp lý của thửa đất, không tiến hành xác minh đối với ng i phải thi hành án là bà N2 (vi phạm Điều 14 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004; Điều 20, 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Điều 2, 3 Nghị định số 164 2004 NĐ-CP ngày 14 9 2004 về kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất để bảo đảm thi hành án). Những hành vi trên của bị can N đã dẫn đến việc bà N2 lợi dụng việc thiếu trách nhiệm trong quá trình thi hành án của Đặng Văn N nên đã sử dụng nhà, đất tại số A T để bảo đảm trả nợ theo các quyết định thi hành án, dẫn đến gây thiệt hại cho ông Thái Trung H1 và bà Nguyễn Thị H số tiền 1.781.000.000 đồng (trị giá nhà, đất tại số A T bán cho ng i trúng đấu giá).
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp s thẩm nhận định việc truy tố bị cáo thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong việc ban hành các văn bản giải toả ngăn chặn tài sản nhà, đất tại số B đ ng P, thành phố B và số B đ ng S, ph ng T, thành phố B là ch a đủ c sở vững chắc, hành vi của bị cáo không gây hậu quả, không ảnh h ởng đến quyền và lợi ích của vợ chồng ông T1, bà Q và bà N1; ch a đủ căn cứ buộc tội bị cáo đối với hành vi kê biên, bán đấu giá nhà và đất tại số A T, ph ng T, thành phố B; xác định hành vi ban hành Quyết định số 84 QĐ-THA ngày 26 8 2010 giải toả ngăn chặn tài sản và không thực hiện việc kê biên nhà đất tại E Ngô Quyền (đối với phần v ợt nghĩa vụ bảo đảm trả nợ cho Công ty TNHH T9) của bị cáo N là phạm tội.
Tại Bản án hình sự s thẩm số 119 2022 HSST ngày 25 11 2022, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn N phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
2. Áp dụng khoản 2 Điều 285 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đặng Văn N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tính kể từ ngày bắt thi hành án, bị cáo đ ợc khấu trừ th i gian tạm giam từ ngày 20 5 2016 đến ngày 06 3 2017.
3 Kiến nghị C quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra, làm rõ các hành vi vu khống ng i khác và không chấp hành Bản án của bà Nguyễn Thị N2, tr ng hợp có dấu hiệu phạm tội cần chuyển C quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ giải quyết theo thẩm quyền.
4 Về phần trách nhiệm dân sự:
Đối với yêu cầu của vợ chồng ông Thái Trung H1, bà Nguyễn Thị H về việc buộc bị cáo Đặng Văn N phải trả lại nhà đất 12 Trần Quang K1 và bồi th ng thiệt hại không đặt ra để giải quyết.
Không chấp nhận yêu cầu của các ông, bà Nguyễn Thị N1, Lê Thanh T1, Nguyễn Thị Thu T2, Nguyễn Mạnh H4, Vũ Thị Thúy Thu H3 và Lê Thị Thu H5 về việc buộc Chi cục Thi hành án thành phố Buôn Ma thuột và bị cáo Đặng Văn N phải bồi th ng thiệt hại.
Ngoài ra, bản án s thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 07 12 2022, bị cáo Đặng Văn N kháng cáo kêu oan.
- Các ngày 28 11 2022, 01 12 2022, 02 12 2022 ng i bị hại Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị H và ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N2 kháng cáo (sau đó có đ n bổ sung kháng cáo) với nội dung đề nghị xem xét tuyên hành vi ban hành văn bản giải tỏa ngăn chặn tài sản nhà đất 266 2 đ ng P và 2 đ ng S, ph ng T, thành phố B; hành vi thực hiện việc kê biên, bán đấu giá nhà và đất tại số A T, ph ng T, thành phố B của bị cáo là phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”; tăng hình phạt đối với bị cáo, đồng th i về trách nhiệm dân sự buộc trả lại hoặc bồi th ng cho ông H1 bà H nhà đất nêu trên, bồi th ng cho bà N1, ông T1, bà Q và những ng i bị hại khác tiền thi hành đ ợc khi thi hành án các tài sản nhà đất trong vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, ng i bị hại, những ng i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của những ng i kháng cáo; giữ nguyên bản án s thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Ng i bào chữa cho bị cáo Đặng Văn N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại toàn bộ bản án s thẩm vì cho rằng bị cáo N không phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào hồ s vụ án, các tài liệu chứng cứ đã đ ợc xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:
Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo, bị hại, ng i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là trong th i hạn, đúng quy định nên đ ợc xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về áp dụng pháp luật: bị cáo thực hiện hành vi và bị khởi tố vụ án tr ớc 0 gi ngày 01 01 2018 (ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, nh ng sau ngày này mới có quyết định khởi tố, truy tố và xét xử nên cần áp dụng quy định có lợi cho ng i phạm tội theo h ớng dẫn của Nghị Quyết số 41 2017 ngày 20 6 2017 của Quốc H11, cụ thể: đối với tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Điều 285 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 có quy định nh h n quy định tại Điều 360 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do vậy, bị cáo bị truy tố, xét xử theo Điều 285 Bộ luật Hình sự năm 1999 là phù hợp.
Xét kháng cáo của bị cáo:
Từ ngày 01 4 2008 đến ngày 28 8 2009, bị cáo Đặng Văn N là Chấp hành viên đ ợc phân công thi hành án đối với 06 Quyết định thi hành án đối với 06 Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật, buộc bà N2 phải thi hành án tổng số tiền 7.014.687.000 đồng.
Từ ngày 18 4 2008 đến ngày 28 4 2008, sau khi ban hành Công văn 1924 về thu hồi giải tỏa ngăn chặn đối với nhà 266 2 đ ng P và số B đ ng S, bị cáo tiếp tục thực hiện xác minh tài sản, kết quả: bà N2 là chủ sử dụng nhà đất E12 Ngô Quyền; Lại Nguyên T4 (con trai bà N2) là chủ sử dụng nhà đất E10 Ngô Quyền . Nhà, đất E10-E12 Ngô Quyền đ ợc bà N2 và ông T4 thế chấp cho Ngân hàng N3 chi nhánh Đ để bảo lãnh cho Công ty TNHH T9 vay 2.800.000.000 đồng. Đến hạn, Công ty TNHH T9 không trả đ ợc nợ, Ngân hàng đã khởi kiện. Tại Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đ ng sự số 55 2007 QĐST-KDTM ngày 27 8 2007, buộc Công ty TNHH T9 phải trả 3.164.423.333 đồng cho Ngân hàng. C quan THADS tỉnh Đ đã ra quyết định thi hành án tiến hành kê biên tổ chức bán tài sản nhà, đất tại số E N nh ng không bán đ ợc vì không có ng i mua nên ngày 30 6 2009, C quan THADS tỉnh Đ đã ban hành quyết định trả lại đ n yêu cầu thi hành án và giải toả việc kê biên tài sản. Nh vậy, với kết quả xác minh trên, bị cáo buộc phải biết nhà đất E10-12 Ngô Quyền đ ợc bà N2 và con trai Lại Nguyên T4 ký hợp đồng thế chấp nhằm bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của Công ty T9 cho Ngân hàng có giá trị lớn h n nhiều so với phần nghĩa vụ mà Công ty T9 phải trả, bị cáo đã đ ợc phân công và biết rõ bà N2 có nghĩa vụ phải thi hành án với tổng số tiền 7.014.687.000 đồng. Trong khi ngày 17 4 2008, bị cáo N đã ban hành Công văn 1924 về thu hồi giải tỏa ngăn chặn đối với nhà 266 2 đ ng P và số B đ ng S và ngày 25 3 2010, bị cáo là ng i ký hợp đồng với Công ty thẩm định giá xác định giá khởi điểm của nhà đất 12 Trần Quang K1 chỉ 1.770.839.000 đồng không đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bà N2. Bị cáo biết thông tin xác minh th i điểm 30 6 2009, C quan THADS tỉnh Đ đã ra quyết định giải toả việc kê biên nhà đất E10-12 Ngô Quyền . Mặc dù ngày 04 6 2010, bị cáo đã ban hành Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án số 79 QĐ-THA (thay thế Công văn số 1780/CV-THA ngày 02 4 2008 và Công văn số 1856 CV-THA ngày 10 4 2008) để ngăn chặn bà N2 tẩu tán nhà, đất tại số E N Tuy nhiên, đến ngày 28 6 2010, bị cáo lại ban hành Quyết định số 84 QĐ-THA thu hồi Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án số 79 QĐ-THA, hậu quả ngày 15 7 2010 bà N2 và con trai Lại Nguyên T4 đã ký hợp đồng chuyển nh ợng nhà, đất tại số E N cho vợ chồng ông Lê Văn T3 và bà Lê Thị Thu H5 (đồng th i cũng là ng i đ ợc thi hành án), số tiền chuyển nh ợng nhà đất sau khi khấu trừ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, bà N2 không chi trả cho những ng i đ ợc thi hành án. Hậu quả làm ảnh h ởng đến quyền đ ợc bảo đảm thi hành án của những ng i đ ợc thi hành án. Do đó, hành vi ban hành Quyết định số 84 QĐ-THA thu hồi Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án số 79 QĐ-THA và không thực hiện việc kê biên tài sản đối với nhà đất E12 Ngô Quyền của bị cáo N là hành vi thiếu trách nhiệm do thực hiện không đúng và không thực hiện đúng quy định về trình tự thủ tục thi hành án theo quy định tại khoản 1 mục IV Thông t liên tịch số 12 2001 TTLT-BTP-VKSNDTC ngày 26 02 2001 của Bộ T pháp - Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Xét mức độ thiệt hại, thấy rằng: nhà đất E10-12 N, bà N2, ông T4 ký hợp chuyển nh ợng cho vợ chồng ông Lê Văn T3, bà Lê Thị Thu H5 theo Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đắk Lắk xác định có giá là 6.500.000.000 đồng. Bà N2 và ông T4 có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng 3.500.000.000 đồng, còn lại 3.000.000.000 đồng, bà N2 là chủ sở hữu, sử dụng nhà đất E12 Ngô Quyền, ông T4 là chủ sở hữu, sử dụng nhà đất E10 Ngô Quyền t ng đ ng mỗi ng i đ ợc h ởng 1.500.000.000 đồng. Do đó, cần xác định 1.500.000.000 đồng là mức độ thiệt hại, cấu thành vật chất xác định tội danh, định khung hình phạt đối với hành vi của bị cáo Đặng Văn N.
Hành vi của bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của c quan, tổ chức do ng i có chức vụ thực hiện trong khi thi hành công vụ và gây nguy hiểm cho xã hội, do thiếu trách nhiệm nên Đặng Văn N đã không thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ đ ợc giao, gây thiệt hại đến quyền đ ợc bảo đảm thi hành án đối với các Bản án, Quyết định đang có hiệu lực pháp luật cho những ng i đ ợc thi hành án . Do vậy, với hành vi nh trên, Toà án cấp s thẩm xác định bị cáo Đặng Văn N phạm tội“Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại khoản 2 Điều 285 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm các giấy khen, tuy nhiên xét tích chất mức độ phạm tội của bị cáo cũng nh nhân thân và các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự thì mức hình phạt mà Toà án cấp s thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử thấy cần giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo.
. Xét kháng cáo của bị hại và ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
. Đối với hành vi thực hiện việc kê biên, bán đấu giá nhà và đất tại số A T, ph ng T, thành phố B để tổ chức thi hành án của Đặng Văn N. Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo các tài liệu do vợ chồng bà H cung cấp và kết quả điều tra thì thửa đất tại số A đ ng T, ph ng T, thành phố B (sau này gọi tắt là số 12 Trần Quang K1), có nguồn gốc nh sau: ngày 25 12 1982, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ cấp Giấy cho sử dụng đất số 337 SDĐ, cấp cho ông Vũ Đức V (Trung uý, công tác tại Bộ Chỉ huy) một lô đất có diện tích 800m2 thuộc khu vực sân bay L (nay gồm các lô đất địa chỉ tại số nhà F, 62A, 62B đ ng Lê Thánh Tông; số nhà A, 14, 16 đ ng T và số 03, 05, 09, 11 đ ng N, ph ng T).
Ngày 20 11 1991, ông Vũ Đức V viết giấy tay sang nh ợng cho ông Vũ Xuân H9 (em ruột ông V, đã chết năm 2011) 80m2 đất trong diện tích đất đ ợc cấp nêu trên (có vị trí hiện tại là số 12 Trần Quang K1), giấy sang nh ợng đ ợc UBND ph ng T xác nhận ngày 24 11 1991. Nh ng do ông H9 về quê, lô đất trên để trống không sử dụng, nên giữa ông V, ông H9 và bà Nguyễn Thị N2 có lập một văn bản thoả thuận, nội dung thống nhất để ông V chuyển nh ợng lô đất này cho bà N2 (văn bản đề ngày 20 11 1991). Thực hiện thoả thuận, sau đó ông V viết giấy sang nh ợng đất tại số A T cho bà N2 đề ngày viết giấy là 20 11 1991. Giấy sang nh ợng này cũng đ ợc UBND ph ng T xác nhận ngày 24 11 1991. Ngày 18 12 1991, bà Nguyễn Thị N2 viết giấy sang nh ợng đất tại số A T cho ông Thái Trọng H2 đ ợc UBND ph ng T xác nhận ngày 20 12 1991. Năm 1996, ông Thái Trọng H2 đổi tên lót thành T7 Trung Hậu nên đề nghị bà N2 cùng đến UBND ph ng T làm lại hợp đồng sang nh ợng đất để đúng với tên mới. Ngày 12 12 1996, bà N2 và ông H2 lập Hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất, trong hợp đồng có bổ sung thêm bà Nguyễn Thị H (vợ ông H2) vào bên nhận chuyển nh ợng, hợp đồng đ ợc UBND ph ng T xác nhận cùng ngày.
Từ khi nhận sang nh ợng đất của bà N2, ông H2, bà H không sử dụng nên đất bị lấn chiếm, hai bên thoả thuận để bà N2 đòi đất và thoả thuận việc xây nhà trên đất. Trong quá trình sinh sống, làm ăn, bà N2 vay tiền của nhiều ng i và có sử dụng giấy có tiêu đề và nội dung sang nh ợng đất thổ c thửa đất tại số A T (sang nh ợng từ ông V cho bà N2) thế chấp cho những ng i cho vay tiền và bị khởi kiện. Bà H trình bày th ng qua nhà đất trên nh ng không trực tiếp ở tại đó. Quá trình giải quyết vụ án, ông H2 và bà H cung cấp các tài liệu chứng minh các nội dung trên nh : Bản gốc Hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất đề ngày 12 12 1996 có xác nhận của UBND ph ng T; đ n xin chuyển nh ợng quyền sử dụng đất đề ngày 25 10 1996; Giấy xác nhận quyền sử dụng đất thổ c và quyền sở hữu nhà ở, đề ngày 18 12 1991; Bản thỏa thuận đòi đất ngày 18 2 2003; giấy nhận tiền ngày 07 5 2005.
Thực hiện nhiệm vụ tổ chức thi hành Quyết định thi hành án số 1256 QĐ-THA và số 1260 QĐ-THA cùng ngày 01 4 2008. Ngày 18 4 2008, bị cáo N tiến hành xác minh tại UBND ph ng T, đ ợc cung cấp thông tin với nội dung: “Bà N2 có 01 lô đất tại A T, nhận chuyển nh ợng của ông Vũ Đức V ngày 20 11 1991, diện tích 80 m2, đ ợc UBND ph ng T xác nhận nh ng ch a đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất nằm trong quy hoạch xây dựng nhà cao tầng, mở đ ng; các c quan chức năng đang xem xét nguồn gốc đất cấp ông V cũng nh việc chuyển nh ợng đất giữa ông V và bà N2 có hợp pháp hay không”. Ngày 12 9 2008, Đặng Văn N ban hành Quyết định số 61 QĐ-THA kê biên nhà đất 12 T; ngày 18 9 2008, bà N2 có đ n đề nghị hoãn kê biên tài sản này với lý do “để ch bán tài sản tại E Ngô Quyền sẽ trả cho ng i đ ợc thi hành án”. Ngày 12 11 2008 và ngày 04 12 2008, Đặng Văn N tiếp tục xác minh tại các c quan, gồm: UBND ph ng T; Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố B và Công an thành phố B nh ng kết quả xác minh đều không có thông tin về việc bà N2 đã chuyển nh ợng nhà đất số 12 Trần Quang K1 cho vợ chồng ông H2, bà H. Nên ngày 26 12 2008, bị cáo N tiếp tục ra Quyết định kê biên số 28 QĐ-THA, kê biên toàn bộ tài sản này (th i điểm này Quyết định kê biên số 61 ngày 12 9 2008 vẫn đang có hiệu lực) và sau đó đ ợc bán đấu giá thành công, nhà đất đã giao cho ng i trúng đấu giá. Số tiền thu đ ợc Đặng Văn N chi trả cho 6 ng i đ ợc thi hành án. Quá trình giải quyết vụ án, c quan điều tra tiến hành xác minh các tài liệu, chứng cứ mà vợ chồng ông H2, bà H cung cấp về việc chuyển nh ợng cũng nh các thoả thuận của 2 bên về nhà đất trên đều không đ ợc l u trữ tại c quan chức năng có thẩm quyền. Vợ chồng bà H ch a đ ợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại 12 Trần Quang K1; cho đến nay ch a có quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật của c quan chức năng và ng i có thẩm quyền xác định nhà đất trên thuộc sở hữu, sử dụng hợp pháp của ông H2, bà H mà chỉ có các tài liệu nêu trên. Với các kết quả xác minh trên thì bà N2 là ng i nhận chuyển nh ợng đất của ông V từ năm 1991 và trên thực tế bà N2 là ng i quản lý, sử dụng đồng th i tạo lập nhà trên đất từ năm 1991 đến khi bị c ỡng chế giao nhà cho ng i trúng đấu giá. Ngoài ra, quá trình quản lý, sử dụng đất bà N2 là ng i đứng đ n khiếu nại tranh chấp đất đ ợc UBND ph ng T giải quyết. Bà N2 cũng sử dụng giấy có nội dung nhận chuyển nh ợng của ông Vũ Đức V ngày lập 20 11 1991 để thế chấp làm tin vay tiền của ng i khác mà không thông báo cho vợ chồng bà H biết. Quá trình kê biên, thông báo bán đấu giá, bà N2 đều biết, việc c ỡng chế giao nhà bà N2 có mặt và ký biên bản giao nhà nh ng không phản đối, không khiếu nại, không trình bày về việc nhà đất bị c ỡng chế có liên quan đến những ng i khác. Trong th i gian tổ chức thi hành án, bản thân bà N2 là ng i liên quan trực tiếp đến các giao dịch, thoả thuận với ông H2, bà H về việc chuyển nh ợng, quản lý, sử dụng, giải quyết các tranh chấp phát sinh với nhà đất 12 Trần Quang K1 nh ng không trình bày hay cung cấp cho c quan Thi hành án cũng nh không thông báo cho vợ chồng ông H2, bà H biết việc thi hành án liên quan đến nhà đất này.
Nh vậy, cho đến th i điểm c ỡng chế, giao nhà đất cho ng i trúng đấu giá thì theo tài liệu về kết quả xác minh điều kiện thi hành án để làm căn cứ tổ chức việc thi hành án thể hiện bà N2 là chủ sở hữu nhà đất 12 Trần Quang K1 và bà N2 có quá trình quản lý, sử dụng nhà đất này trên thực tế.
Với nội dung nêu trên, Toà án cấp s thẩm nhận định hành vi, kê biên bán đấu giá nhà đất 12 Trần Quang K1 của Đặng Văn N không phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” là có c sở.
Do hành vi trên của bị cáo không phạm tội nên trong vụ án này, Toà án cấp s thẩm không đặt ra để giải quyết đối với yêu cầu về dân sự của ông H2, bà H trong vụ án “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” là phù hợp với quy định của pháp luật. Vợ chồng ông H2, bà H có thể đề nghị c quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết quyền, lợi ích hợp pháp của ông bà đối với nhà đất nêu trên theo quy định của pháp luật khi có yêu cầu.
. Đối với hành vi ban hành văn bản giải tỏa ngăn chặn tài sản nhà đất 266/2 đ ng P và 2 đ ng S, ph ng T, thành phố B của Đặng Văn N trong quá trình tổ chức thi hành án, Hội đồng xét xử thấy rằng: tính đến ngày 17 4 2008 (tức ngày bị cáo N ban hành Công văn 1924 về thu hồi giải tỏa ngăn chặn), bị cáo N mới đ ợc phân công và tổ chức thi hành 02 Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đ ng sự số 36 và 03 với tổng số tiền mà bà N2 phải có nghĩa vụ trả cho những ng i đ ợc thi hành án gồm vợ chồng ông T1, bà Q và bà N1 là 1.190.885.000 đồng. Bị cáo N không biết và không có nghĩa vụ phải biết bà N2 sẽ còn phải thi hành các quyết định, bản án tiếp theo cho đến ngày 12 9 2008 thì bà Vũ Thị Thúy Thu H3 mới có đ n yêu cầu thi hành Bản án số 111 ngày 29 8 2008, buộc bà N2 có nghĩa vụ phải trả cho bà Vũ Thị Thúy Thu H3 962.922.000 đồng.
Mặt khác, tại th i điểm ngày 17 4 2008 (tức ngày bị cáo N ban hành Công văn 1924 về thu hồi giải tỏa ngăn chặn), thực tế bà N2 ngoài sở hữu nhà đất số B đ ng P và số B đ ng S thì theo xác minh, bà N2 đang sở hữu, quản lý, sử dụng nhà đất 12 Trần Quang K1 có giá trị trên 1.700.000.000 đồng và nhà đất E12 Ngô Quyền giá trị trên 3 tỷ đồng nên vẫn bảo đảm thi hành án cho vợ chồng ông T1, bà Q và bà N1 với số tiền phải thi hành án chỉ 1.190.885.000 đồng. Kết quả xác minh thể hiện bà N2 chuyển nh ợng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nhà) đ ợc công chứng ngày 18 3 2008 nên theo quy định khoản 5 Điều 93 Luật Nhà ở năm 2005 cần xác định hợp đồng chuyển nh ợng giữa các bên có hiệu lực. Do đó, bị cáo N giải tỏa ngăn chặn, không tiến hành thủ tục kê biên, không có văn bản đề nghị c quan có thẩm quyền huỷ bỏ giao dịch tính đến th i điểm ngày 17 3 2008 không gây hậu quả, không làm ảnh h ởng đến quyền và lợi ích của ng i đ ợc thi hành án, vẫn bảo đảm quyền đ ợc thi hành án của vợ chồng ông T1, bà Q và bà N1, vì tại th i điểm này bà N2 vẫn còn các tài sản khác bảo đảm thi hành án.
Nh vậy, việc buộc bị cáo thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong việc ban hành các văn bản giải tỏa ngăn chặn tài sản nhà đất số B đ ng P và số B đ ng S, ph ng T, thành phố B là ch a đủ c sở vững chắc, hành vi của bị cáo không gây hậu quả, không ảnh h ởng đến quyền và lợi ích của vợ chồng ông T1, bà Q và bà N1. Do đó, Toà án cấp s thẩm xác định, đối với hành vi của bị cáo N về việc giải tỏa ngăn chặn đối với nhà, đất 266 2 Phan Bội C1, số B S không đủ c sở để kết tội, không gây hậu quả thiệt hại, từ đó, không đặt ra để giải quyết đối với yêu cầu về dân sự của vợ chồng ông T1, bà Q và bà N1 là có căn cứ.
Bị cáo Đặng Văn N ban hành văn bản giải tỏa ngăn chặn và không tiến hành kê biên nhà, đất E12 Ngô Quyền, dẫn đến bà N2 đã thực hiện việc chuyển quyền về tài sản cho ông T3, bà H5; đồng th i bà N2 đã nhận tiền chuyển nh ợng nhà E12 Ngô Quyền nh ng sử dụng vào mục đích cá nhân mà không trả tiền cho những ng i đ ợc thi hành án nên bà N2 phải có nghĩa vụ tiếp tục phải thi hành án cho những ng i đ ợc thi hành án này là phù hợp. Do đó, Toà án cấp s thẩm không chấp nhận yêu cầu của các ông, bà Nguyễn Thị N1, Lê Thanh T1, Nguyễn Thị Thu T2, Nguyễn Mạnh H4, Vũ Thị Thúy Thu H3 và Lê Thị Thu H5 về việc buộc Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột và bị cáo N phải bồi th ng thiệt hại là có căn cứ theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, đối với việc bà Nguyễn Thị N2 nộp đ n tố cáo Đặng Văn N nhận hối lộ cũng nh việc không thi hành án, Toà án cấp s thẩm đã kiến nghị c quan có thẩm quyền xem xét giải quyết, xử lý theo quy định là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, những ng i kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo nh ng xét thấy không có thêm các tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án, nên căn cứ vào những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không có c sở để chấp nhận những nội dung kháng cáo của bị cáo, bị hại và ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án s thẩm là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên đ ợc Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: do kháng cáo không đ ợc chấp nhận nên những ng i kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[1]. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn N, kháng cáo của các bị hại bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H và kháng cáo của ng i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N2. Giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 119 2022 HSST ngày 25 11 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Áp dụng khoản 2 Điều 285 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: bị cáo Đặng Văn N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bắt thi hành án, bị cáo đ ợc khấu trừ th i gian tạm giam từ ngày 20 5 2016 đến ngày 06 3 2017.
[2]. Kiến nghị C quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra, làm rõ các hành vi vu khống ng i khác và không chấp hành Bản án của bà Nguyễn Thị N2, tr ng hợp có dấu hiệu phạm tội cần chuyển C quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ giải quyết theo thẩm quyền.
[3]. Về phần trách nhiệm dân sự:
Đối với yêu cầu của vợ chồng ông Thái Trung H1, bà Nguyễn Thị H về việc buộc bị cáo Đặng Văn N phải trả lại nhà đất số A T và bồi th ng thiệt hại không đặt ra để giải quyết.
Không chấp nhận yêu cầu của các ông, bà Nguyễn Thị N1, Lê Thanh T1, Nguyễn Thị Thu T2, Nguyễn Mạnh H4, Vũ Thị Thúy Thu H3 và Lê Thị Thu H5 về việc buộc Chi cục Thi hành án thành phố Buôn Ma Thuột và bị cáo Đặng Văn N phải bồi th ng thiệt hại.
[4]. Án phí hình sự phúc thẩm: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326 2016 NQ-UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban Th ng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Văn N và các bà Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị N2 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật và đ ợc thực hiện theo quyết định của Bản án hình sự s thẩm số 119 2022 HSST ngày 25 11 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Đắk Lắk (03); - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Sở T pháp tỉnh Đắk Lắk; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk; - Công an tỉnh Đắk Lắk (03); - Bị cáo; - Những ng i tham gia tố tụng khác; - L u HCTP, hồ s vụ án (ĐTT). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Văn Hợp |