vanban.org

Điều 36. Tiêu huỷ vật chứng, tài sản — Pháp lệnh số 13/2004/PL-UBTVQH11 Thi hành án dân sự

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2009 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/07/2009 Thay thế: 26/2008/QH12 · 14/11/2008
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Ban hành 14/01/2004 Hiệu lực 01/07/2004 Hết hiệu lực toàn bộ 44 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 3 đời pháp lệnh · 4 phiên bản · 36 năm
Pháp lệnh số 13/2004/PL-UBTVQH11 Thi hành án dân sự · 13/2004/PL-UBTVQH11
01/07/200926/2008/QH12Sửa đổi Đang xem 01/07/2004Bản gốcThay thế
Pháp lệnh số Không số Thi hành án dân sự 1993
Pháp lệnh số 23-LCT/HĐNN8 Thi hành án dân sự 1989 · 23-LCT/HĐNN8
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh 13/2004/PL-UBTVQH11 › Chương III › Điều 36
Đọc toàn văn

Điều 36. Tiêu huỷ vật chứng, tài sản

1. Việc tiêu huỷ vật chứng, tài sản được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

a) Vật chứng, tài sản phải tiêu huỷ theo bản án, quyết định của Toà án;

b) Tài sản mà bản án, quyết định tuyên trả cho đương sự, tài sản kê biên, thu giữ bị hư hỏng và không còn giá trị mà đương sự không nhận;

c) Tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 54 của Pháp lệnh này.

2. Thủ trưởng Cơ quan thi hành án phải ra quyết định thành lập Hội đồng tiêu huỷ tài sản gồm Chấp hành viên là Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài chính cùng cấp là thành viên, đại diện cơ quan chuyên môn tham gia Hội đồng khi xét thấy cần thiết. Viện kiểm sát cùng cấp kiểm sát việc tiêu huỷ vật chứng, tài sản.

3. Kinh phí cho việc tiêu huỷ vật chứng, tài sản theo bản án, quyết định của Toà án do ngân sách nhà nước cấp.