Điều 7. Thẩm quyền thu hồi tài sản công
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thu hồi các loại tài sản công như sau (trừ quy định tại khoản 3 Điều này):
a) Trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô;
b) Tài sản khác có nguyên giá theo sổ sách kế toán từ 500 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản.
2. Trừ các tài sản thuộc thẩm quyền quyết định thu hồi của Chủ tịch UBND tỉnh tại khoản 1 Điều này, thẩm quyền thu hồi tài sản khác như sau:
a) Giám đốc Sở Tài chính quyết định thu hồi tài sản có nguyên giá theo sổ sách kế toán dưới 500 triệu đồng/01 đơn vị tài sản của các đơn vị dự toán cấp tỉnh (trừ quy định tại khoản 3 Điều này);
b) Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định thu hồi đối với tài sản công có nguyên giá theo sổ kế toán dưới 500 triệu đồng/01 đơn vị tài sản của các đơn vị dự toán cấp huyện và của các cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp xã (trừ quy định tại khoản 3 Điều này).
3. Các trường hợp không áp dụng theo thẩm quyền quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này như sau:
a) Thu hồi tài sản phục vụ hoạt động tại cơ quan của Đảng là đơn vị dự toán trực thuộc Văn phòng tỉnh ủy;
b) Thu hồi tài sản được hình thành từ nguồn quỹ dự trữ của ngân sách Đảng phục vụ hoạt động tại cơ quan của Đảng là đơn vị dự toán thuộc ngân sách cấp huyện.