vanban.org

Điều 61 — Nghị quyết 301/NQ-UBTVQH

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/06/2005 Thay thế: 753/2005/NQ-UBTVQH11 · 02/04/2005
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Ban hành 25/06/1996 Hiệu lực 01/06/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị quyết · 2 phiên bản · 21 năm
Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11 Ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân · 753/2005/NQ-UBTVQH11
Nghị quyết số 301/NQ-UBTVQH Về việc ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp 1996 · 301/NQ-UBTVQH
01/06/2005Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 301/NQ-UBTVQH › Chương IX › Điều 61
Đọc toàn văn

Điều 61

Trong trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân bị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản cho Thường trực Hội đồng nhân dân, ở cấp xã thì thông báo cho Chủ tịch Hội đồng nhân dân trước khi ra quyết định khởi tố. Đại biểu Hội đồng nhân dân bị khởi tố thì Thường trực Hội đồng nhân dân, ở cấp xã thì Chủ tịch Hội đồng nhân dân ra quyết định tạm đình chỉ làm nhiệm vụ đại biểu. Đại biểu trở lại làm nhiệm vụ đại biểu khi cơ quan có thẩm quyền đình chỉ việc khởi tố đối với đại biểu hoặc sau khi xét xử mà không bị Toà án kết án.

Đại biểu Hội đồng nhân dân phạm tội bị Toà án kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật thì mất quyền đại biểu Hội đồng nhân dân.

Toà án đã xét xử việc phạm tội của đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm gửi bản sao bản án hoặc trích lục bản án đã có hiệu lực pháp luật của Toà án mình đến Thường trực Hội đồng nhân dân, ở cấp xã thì gửi Chủ tịch Hội đồng nhân dân và thông báo cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp biết.

Thường trực Hội đồng nhân dân, ở cấp xã thì Chủ tịch Hội đồng nhân dân báo cáo với Hội đồng nhân dân tại kỳ họp gần nhất việc đại biểu Hội đồng nhân dân đó bị mất quyền đại biểu Hội đồng nhân dân. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp phối hợp với Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân thông báo để cử tri ở đơn vị nơi bầu ra đại biểu biết.