vanban.org

Điều 17 — Nghị quyết 301/NQ-UBTVQH

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/06/2005 Thay thế: 753/2005/NQ-UBTVQH11 · 02/04/2005
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Ban hành 25/06/1996 Hiệu lực 01/06/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị quyết · 2 phiên bản · 21 năm
Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11 Ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân · 753/2005/NQ-UBTVQH11
Nghị quyết số 301/NQ-UBTVQH Về việc ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp 1996 · 301/NQ-UBTVQH
01/06/2005Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 301/NQ-UBTVQH › Chương II › Điều 17
Đọc toàn văn

Điều 17

Nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải được quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành, trường hợp bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân phải được hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành. Hội đồng nhân dân quyết định việc biểu quyết bằng cách giơ tay, bỏ phiếu kín hoặc bằng cách khác theo đề nghị của chủ toạ phiên họp.

Nghị quyết và biên bản các phiên họp Hội đồng nhân dân do Chủ tịch Hội đồng nhân dân ký chứng thực.

Chậm nhất là mười ngày kể từ ngày bế mạc kỳ họp, nghị quyết, biên bản, báo cáo, đề án của kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được Thường trực Hội đồng nhân dân gửi lên Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ; Nghị quyết, biên bản, báo cáo, đề án tại kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp huyện phải được Thường trực Hội đồng nhân dân gửi lên Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; nghị quyết và các văn bản của kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp xã phải được Chủ tịch Hội đồng nhân dân gửi lên Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

Nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải được gửi đến các cơ quan hữu quan để thực hiện; việc công bố nghị quyết của Hội đồng nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng do Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp, ở cấp xã thì do Chủ tịch Hội đồng nhân dân quyết định.