vanban.org

Điều 44 — Nghị quyết 200-NQ/TVQH

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 23/06/1980 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 26/02/1983 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 97/2015/QH13 · 25/11/2015 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 16/LC_HDNN · 03/03/1989
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Ban hành 18/01/1966 Hiệu lực 02/02/1966 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 60 năm
Nghị quyết số 200-NQ/TVQH Về việc ban hành Điều lệ Thuế công thương nghiệp 1966 · 200-NQ/TVQH
26/02/1983Pháp lệnh sửa đổi 1983Bãi bỏ Đang xem 02/02/1966Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 200-NQ/TVQH › Chương V › Điều 44
Đọc toàn văn

Điều 44

Việc xử lý các trường hợp vi phạm về thuế công thương nghiệp quy định như sau:

1- Nếu kinh doanh không đăng ký thì ngoài việc phải xử lý theo thể lệ đăng ký công thương nghiệp hiện hành, cơ sở kinh doanh thường xuyên phải nộp thuế doanh nghiệp theo thuế suất ghi trong biểu thuế doanh nghiệp cộng (+) thêm:

- 1% đối với ngành, nghề chịu thuế doanh nghiệp từ 1% đến 3%,

- 2% đối với ngành, nghề chịu thuế doanh nghiệp trên 3%.

Cơ sở kinh doanh buôn chuyến phải nộp thuế buôn chuyến theo thuế suất ghi trong biểu thuế buôn chuyến cộng (+) thêm 2%.

2- Nếu vi phạm thể lệ khai báo, thể lệ giữ sổ sách kế toán qui định ở các điều 6, 7, 8, 30, 31, 39 và 42 thì có thể bị phê bình, cảnh cáo; nếu tái phạm hoặc vi phạm lần đầu nhưng xét có dụng ý thì có thể bị phạt đến 100 đồng.

3- Nếu không nộp thuế đúng kỳ hạn theo các điều 6, 30, 31, 39 thì mỗi ngày quá hạn phải nộp thêm 0,5% số thuế nộp chậm.

4- Nếu khai man, trốn thuế thì có thể bị phạt từ 1 đến 5 lần số thuế gian lậu.

5- Nếu vi phạm nghiêm trọng, như tái phạm nhiều lần, làm chứng từ giả, có hành động chống đối việc thu thuế v.v... thì có thể bị truy tố trước toà án nhân dân.

Những người có hành vi can thiệp gây trở ngại cho việc thu thuế công thương nghiệp có thể bị phê bình, cảnh cáo, hoặc truy tố trước toà án nhân dân, tuỳ theo mức độ nặng nhẹ.