Điều 7. Quyền và trách nhiệm của Hội đồng nhân dân tỉnh
1. Căn cứ vào kết quả giám sát, Hội đồng nhân dân tỉnh có các quyền sau:
a. Đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc phân tích, làm rõ báo cáo công tác 6 tháng, hàng năm của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh.
b. Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện.
c. Ra nghị quyết về kết quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh, về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết.
d. Miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh; Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân tỉnh; Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các thành viên khác của các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, Thư ký kỳ họp của Hội đồng nhân dân tỉnh, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và Hội thẩm nhân dân tỉnh theo quy định của pháp luật.
e. Quyết định giải tán Hội đồng nhân dân cấp huyện trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhà nước, nhân dân.
2. Khi thực hiện chức năng giám sát, Hội đồng nhân dân tỉnh có trách nhiệm:
Xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết chương trình giám sát hàng năm của mình theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; trình tự thủ tục theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân năm 2005, các quy định khác của pháp luật có liên quan.