Điều 41. Quy định chuyển tiếp đối với luật sư, luật sư tập sự
1. Người được công nhận là luật sư theo quy định của Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 trước ngày 01 tháng 10 năm 2001 thì được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư để hành nghề luật sư theo quy định của Pháp lệnh Luật sư năm 2001.
2. Người thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này mà đang là cán bộ, công chức thì được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư để hành nghề luật sư cho đến ngày 30 tháng 9 năm 2004.
3. Người đang là luật sư tập sự vào thời điểm Pháp lệnh Luật sư có hiệu lực thì được tiếp tục tập sự hành nghề luật sư theo quy định của Pháp lệnh Luật sư; thời gian đã tập sự hành nghề luật sư được tính vào thời gian tập sự theo quy định của Pháp lệnh Luật sư.
Người có thời gian tập sự hành nghề luật sư tại chi nhánh tổ chức luật sư nước ngoài ở Việt Nam trước thời điểm Pháp lệnh Luật sư có hiệu lực thì thời gian đã tập sự hành nghề luật sư tại chi nhánh tổ chức luật sư nước ngoài được tính vào thời gian tập sự theo quy định của Pháp lệnh Luật sư.
4. Người đang là luật sư, luật sư tập sự của Đoàn luật sư theo quy định của Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 thì đương nhiên trở thành luật sư hoặc luật sư tập sự của Đoàn luật sư đó sau khi Đoàn luật sư chuyển đổi theo quy định của Pháp lệnh Luật sư năm 2001.
Đối với những người cư trú tại một địa phương, nhưng đang là luật sư hoặc luật sư tập sự của Đoàn luật sư của địa phương khác, nếu có nguyện vọng chuyển về Đoàn luật sư của địa phương nơi mình cư trú thì được chuyển về Đoàn luật sư đó. Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư của địa phương nơi luật sư cư trú có trách nhiệm tiếp nhận luật sư đó.
5. Sau khi Đoàn luật sư đã được chuyển đổi về tổ chức và hoạt động theo quy định của Pháp lệnh Luật sư năm 2001 thì Thẻ luật sư được cấp theo quy định của Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 của các thành viên Đoàn luật sư đó không còn giá trị.