vanban.org

Điều 66. Tỷ lệ bảo đảm an toàn — Nghị định 329/2025/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 18/12/2025 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Chính phủ Ban hành 18/12/2025 Hiệu lực 18/12/2025 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 329/2025/NĐ-CP › Chương V › Điều 66
Đọc toàn văn

Điều 66. Tỷ lệ bảo đảm an toàn

1. Ngân hàng không áp dụng Chuẩn mực quốc tế về kế toán phải duy trì các tỷ lệ bảo đảm an toàn sau đây:

a) Tỷ lệ an toàn vốn:

a.1) Ngân hàng thực hiện theo quy định hiện hành của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trừ quy định tại các điểm a.2, a.3, a.4, a.5 khoản này;

a.2) Ngân hàng được thực hiện theo phương pháp xếp hạng nội bộ cho rủi ro tín dụng sau khi được Cơ quan điều hành tại thành phố chấp thuận. Trong giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp xếp hạng nội bộ, ngân hàng phải gửi đến Cơ quan điều hành tại thành phố báo cáo đánh giá của tổ chức kiểm toán độc lập và báo cáo của ngân hàng kèm tài liệu có liên quan trước ngày 15 tháng 4 hàng năm;

a.3) Ngân hàng được mua lại và hoàn trả phần vốn gốc của công cụ bổ sung vốn cấp 1 sau khi được Cơ quan điều hành tại thành phố chấp thuận;

a.4) Hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận các đề nghị tại điểm a.2, điểm a.3 thực hiện theo quy định của Cơ quan điều hành;

a.5) Khi tính rủi ro tín dụng đối tác, rủi ro thị trường, giá trị giao dịch, giá trị tài sản cơ sở phải được lấy theo giá trị thị trường (mark to market). Trường hợp không có giá trị thị trường, ngân hàng phải tính toán giá trị theo các dữ liệu thị trường (mark to model) và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp lý của phương pháp tính toán, đồng thời báo cáo Cơ quan giám sát trước khi thực hiện. Cơ quan giám sát yêu cầu ngân hàng sửa đổi phương pháp tính toán trong trường hợp cần thiết;

b) Tỷ lệ khả năng chi trả (tỷ lệ dự trữ thanh khoản, tỷ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày) bằng đồng đô la Mỹ và các ngoại tệ khác được quy đổi sang đô la Mỹ theo quy định hiện hành của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Các cấu phần, các tỷ lệ áp dụng tương tự như đối với đồng Việt Nam theo quy định hiện hành của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Ngân hàng không áp dụng Chuẩn mực quốc tế về kế toán không phải tuân thủ tỷ lệ khả năng chi trả bằng đồng Việt Nam;

c) Tỷ lệ mua, nắm giữ, đầu tư trái phiếu Chính phủ Việt Nam, trái phiếu được Chính phủ Việt Nam bảo lãnh theo quy định hiện hành của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

d) Các tỷ lệ bảo đảm an toàn khác ngoài các tỷ lệ tại điểm a, b, c khoản này thực hiện theo quy định hiện hành của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

2. Ngân hàng áp dụng Chuẩn mực quốc tế về kế toán tuân thủ tỷ lệ bảo đảm an toàn theo chính sách của chủ sở hữu, ngân hàng mẹ, trong đó tối thiểu bao gồm các tỷ lệ bảo đảm an toàn sau đây: Tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ đòn bẩy (Leverage Ratio - LEV), tỷ lệ khả năng chi trả (Liquidity Coverage Ratio - LCR), tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (Net Stable Funding Ratio - NSFR).

3. Căn cứ kết quả giám sát, kiểm tra, thanh tra của Cơ quan giám sát đối với ngân hàng thành viên, trong trường hợp cần thiết để bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thành viên, tùy theo tính chất, mức độ rủi ro, Cơ quan giám sát yêu cầu ngân hàng thành viên thực hiện một hoặc một số tỷ lệ bảo đảm an toàn chặt chẽ hơn so với mức quy định tại chính sách ngân hàng thành viên đang áp dụng.

4. Ngân hàng áp dụng Chuẩn mực quốc tế về kế toán không phải tuân thủ tỷ lệ mua, nắm giữ, đầu tư trái phiếu Chính phủ Việt Nam, trái phiếu được Chính phủ Việt Nam bảo lãnh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

5. Ngân hàng thành viên không phải tuân thủ trạng thái ngoại tệ tối đa so với vốn tự có theo quy định của pháp luật Việt Nam.