Điều 35. Những trường hợp đương nhiên mất tư cách
1. Những trường hợp sau đây đương nhiên mất tư cách thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) của ngân hàng thương mại thành viên:
a) Thuộc một trong các trường hợp không được đảm nhiệm chức vụ quy định tại Điều 33 Nghị định này;
b) Không còn là người đại diện theo ủy quyền của Chủ sở hữu của ngân hàng thương mại thành viên;
c) Bị trục xuất khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
d) Khi ngân hàng thương mại thành viên đó bị thu hồi Giấy phép;
đ) Khi hợp đồng thuê Tổng giám đốc (Giám đốc) hết hiệu lực;
e) Chết.
2. Trừ trường hợp ngân hàng thương mại thành viên bị thu hồi Giấy phép, Hội đồng thành viên của ngân hàng thương mại thành viên phải có văn bản báo cáo kèm tài liệu chứng minh về việc nhân sự đương nhiên mất tư cách theo quy định tại khoản 1 Điều này gửi Cơ quan điều hành tại thành phố, Cơ quan giám sát trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhân sự đương nhiên mất tư cách và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của báo cáo này; thực hiện thủ tục bổ nhiệm chức danh bị khuyết theo quy định của pháp luật.
3. Sau khi đương nhiên mất tư cách, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) của ngân hàng thương mại thành viên vẫn phải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trong thời gian đương nhiệm.