Điều 30. Lãi vay sau thời gian xây dựng
1. Căn cứ tham khảo lãi suất vốn vay sau thời gian xây dựng:
Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tham khảo các mức lãi suất vốn vay sau đây:
a) Lãi suất cho vay bình quân trung hạn, dài hạn của 04 ngân hàng thương mại trên địa bàn thực hiện dự án do Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước (khu vực) tại địa phương cung cấp gồm: Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
b) Lãi suất vốn vay của các dự án BT tương tự về lĩnh vực, quy mô, tính chất dự án (nếu có).
c) Quy định tại các điểm a, điểm b khoản này là cơ sở để xác định chi phí lãi vay sau thời gian xây dựng trong bước lập, thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, phê duyệt chủ trương đầu tư dự án BT; lập, thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi, báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng, phê duyệt dự án BT.
d) Lãi suất vốn vay được xác định theo kết quả đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư. Trường hợp dự án BT áp dụng hình thức chỉ định nhà đầu tư hoặc lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt để lựa chọn nhà đầu tư, cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án quyết định lãi suất vốn vay trong phương án tài chính của dự án BT nhưng không vượt quá mức lãi suất vốn vay quy định tại điểm a, điểm b khoản này.
2. Thời gian tính lãi vay sau thời gian xây dựng
a) Thời gian tính lãi vay sau thời gian xây dựng được tính từ thời điểm dự án BT hoàn thành, bàn giao đến thời điểm hoàn thành thanh toán cho doanh nghiệp dự án, nhà đầu tư (trường hợp không thành lập doanh nghiệp dự án).
b) Lãi vay sau thời gian xây dựng của phần vốn vay đã được Nhà nước thanh toán sẽ chấm dứt kể từ thời điểm Nhà nước thanh toán cho doanh nghiệp dự án BT, nhà đầu tư (trường hợp không thành lập doanh nghiệp dự án).
c) Thời gian doanh nghiệp dự án BT hoặc nhà đầu tư (trường hợp không thành lập doanh nghiệp dự án) nộp hồ sơ quyết toán vốn đầu tư dự án BT hoàn thành chậm so với thời gian quy định tại Nghị định này không được tính trong thời gian tính lãi vay sau thời gian xây dựng được Nhà nước thanh toán.
3. Nhà nước thanh toán lãi vay sau thời gian xây dựng cho nhà đầu tư căn cứ các quy định sau đây:
a) Lãi suất vốn vay sau thời gian xây dựng được tính theo lãi suất vốn vay thực tế do nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án BT huy động vốn để thực hiện dự án BT.
b) Trường hợp lãi suất vốn vay sau thời gian xây dựng thực tế cao hơn so với quy định tại hợp đồng BT và phụ lục hợp đồng BT (nếu có), mức lãi suất vốn vay được Nhà nước thanh toán tối đa bằng lãi suất vốn vay quy định tại hợp đồng BT và phụ lục hợp đồng BT (nếu có).
c) Mức vốn vay thực tế mà nhà đầu tư đã huy động để thực hiện dự án BT, tối đa bằng mức vốn vay quy định tại hợp đồng BT và phụ lục hợp đồng BT (nếu có).
d) Thời điểm giải ngân các khoản vay, tỷ lệ giải ngân giữa nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay theo quy định tại hợp đồng BT đã ký kết và phụ lục hợp đồng BT (nếu có).
đ) Thời điểm Nhà nước thanh toán cho doanh nghiệp dự án BT, nhà đầu tư theo quy định tại hợp đồng BT và phụ lục hợp đồng BT (nếu có).