vanban.org

Điều 31. Phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính — Nghị định 142/2004/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/09/2013 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 15/07/2010 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 83/2011/NĐ-CP · 20/09/2011 Sửa đổi, bổ sung: 58/2011/NĐ-CP · 08/07/2011
Chính phủ Ban hành 08/07/2004 Hiệu lực 01/08/2004 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 phiên bản · 22 năm
Nghị định số 142/2004/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính về bưu chính, viễn thông và tần số vô tuyến điện · 142/2004/NĐ-CP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 142/2004/NĐ-CP › Chương III › Mục 1 › Điều 31
Đọc toàn văn

Điều 31. Phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

1. Việc xử phạt các hành vi vi phạm hành chính về bưu chính, viễn thông và tần số vô tuyến điện đối với mạng bưu chính, viễn thông chuyên dùng thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an do cơ quan Thanh tra Quốc phòng và các lực lượng có thẩm quyền xử phạt thuộc Bộ Công an thực hiện.

2. Trong trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thì việc xử phạt do người thụ lý đầu tiên thực hiện.

3. Thẩm quyền xử phạt của những người được quy định tại các Điều 28, 29 và 30 của Nghị định này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính. Trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể.

4. Trong trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo nguyên tắc đã được quy định tại khoản 3 Điều 42 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.