vanban.org

Điều 10. Trình tự lập Chương trình công tác của Chính phủ — Nghị định 11/1998/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 18/04/2003
Chính phủ Ban hành 24/01/1998 Hiệu lực 08/02/1998 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị định · 2 phiên bản · 33 năm
Nghị định số 11/1998/NĐ-CP Ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ · 11/1998/NĐ-CP
08/02/1998Bản gốcThay thế Đang xem
Nghị định số 13-CP Ban hành bản Quy chế làm việc của Chính phủ 1992 · 13-CP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 11/1998/NĐ-CP › Chương II › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Trình tự lập Chương trình công tác của Chính phủ

1- Chương trình công tác năm:

1.1- Chậm nhất vào ngày 15 tháng 11 hàng năm, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ gửi Văn phòng Chính phủ Danh mục những đề án cần trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong năm tới. Danh mục phải thể hiện rõ: tên đề án, cấp quyết định (Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ), cơ quan thẩm định, thời hạn trình của từng đề án. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các đoàn thể nhân dân ở Trung ương cần đăng ký lịch làm việc với Thủ tướng về những nội dung quy định tại Khoản 3, Điều 2 và Khoản 1 Điều 30 Quy chế này.

1.2- Văn phòng Chính phủ dự thảo Chương trình công tác năm sau của Chính phủ và chậm nhất vào ngày 25 tháng 11 gửi lại cho các cơ quan, tổ chức có liên quan để tham gia ý kiến.

1.3-Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo Chương trình công tác của Chính phủ, các cơ quan, tổ chức phải có ý kiến chính thức bằng văn bản gửi Văn phòng Chính phủ để tổng hợp trình Thủ tướng xem xét cho ý kiến chỉ đạo, hoàn chỉnh và trình Chính phủ thông qua tại phiên họp thường kỳ cuối năm.

1.4- Trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày Chính phủ thông qua Chương trình công tác năm, Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành và gửi các thành viên Chính phủ, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức có liên quan biết, thực hiện.

2- Chương trình công tác quý:

2.1- Trong tháng cuối của mỗi quý, các cơ quan phải đánh giá tình hình thực hiện Chương trình công tác qúy đó, soát xét lại các đề án của quý tiếp theo đã ghi trong Chương trình năm và xem xét các vấn đề mới phát sinh để đề nghị điều chỉnh Chương trình công tác cho quý sau.

Chậm nhất là ngày 15 của tháng cuối quý, các cơ quan gửi dự kiến điều chỉnh Chương trình quý sau cho Văn phòng Chính phủ. Quá thời hạn trên, coi như không có nhu cầu điều chỉnh.

2.2- Văn phòng Chính phủ tổng hợp Chương trình công tác quý của Chính phủ (các đề án được phân theo các lĩnh vực do Thủ tướng Chính phủ và từng Phó Thủ tướng xử lý) trình Thủ tướng Chính phủ quyết định và chậm nhất là ngày 20 của tháng cuối quý phải gửi Chương trình công tác qúy sau cho các cơ quan, tổ chức liên quan biết, thực hiện.

3- Chương trình công tác tháng:

3.1- Hàng tháng, các cơ quan căn cứ vào tiến độ chuẩn bị các đề án đã ghi trong Chương trình quý, những vấn đề còn tồn đọng và phát sinh thêm để đề nghị điều chỉnh Chương trình tháng sau. Đề nghị này phải gửi đến Văn phòng Chính phủ chậm nhất vào ngày 20 hàng tháng. Quá thời hạn trên, coi như cơ quan không có đề nghị điều chỉnh Chương trình.

3.2- Văn phòng Chính phủ tổng hợp Chương trình công tác tháng của Chính phủ, có phân theo các lĩnh vực do Thủ tướng và từng Phó Thủ tướng xử lý, trình Thủ tướng quyết định và chậm nhất là ngày 25 hàng tháng phải gửi Chương trình công tác tháng sau cho các cơ quan, tổ chức liên quan biết, thực hiện.

4- Chương trình công tác tuần:

Căn cứ Chương trình công tác tháng và sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và các Phó Thủ tướng, Văn phòng Chính phủ phối hợp với các cơ quan liên quan, xây dựng Chương trình công tác tuần của Thủ tướng Chính phủ và các Phó Thủ tướng Chính phủ, trình Thủ tướng Chính phủ và các Phó Thủ tướng quyết định và thông báo cho các cơ quan liên quan, tổ chức biết chậm nhất vào ngày thứ 7 tuần trước.

5- Văn phòng Chính phủ phải thường xuyên phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Quốc hội và Văn phòng Chủ tịch nước để xây dựng các Chương trình công tác của Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ và các Phó Thủ tướng.

6- Khi có điều chỉnh Chương trình công tác, Văn phòng Chính phủ phải thông báo kịp thời cho các thành viên Chính phủ và Thủ trưởng các cơ quan liên quan biết.

7- Trình tự lập Dự kiến Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết, Nghị định thực hiện theo quy định tại Nghị định số 101/CP ngày 23 tháng 9 năm 1997 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật.