vanban.org

Điều 67 — Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân số 11/2003/QH11

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/08/2010 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/01/2016 Đính chính: 284/2014/QĐ-UBND · 26/06/2014 Thay thế: 55/2010/QĐ-UBND · 03/08/2010
Quốc hội Ban hành 26/11/2003 Hiệu lực 10/12/2003 Hết hiệu lực toàn bộ 4 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 6 phiên bản · 63 năm
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2003 · 11/2003/QH11
01/01/201677/2015/QH13Sửa đổi Đang xem 10/12/2003Bản gốcThay thế
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1994
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1989 · 19/LCT/HĐNN8
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1983
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp 1962 · Số hiệu: 51/LCT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 11/2003/QH11 › Chương III › Mục 2 › Điều 67
Đọc toàn văn

Điều 67

Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định chương trình giám sát hàng quý, hàng năm của mình căn cứ vào chương trình giám sát của Hội đồng nhân dân và ý kiến của các thành viên Thường trực Hội đồng nhân dân, đề nghị của các Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và ý kiến, kiến nghị của cử tri ở địa phương.

Căn cứ vào chương trình giám sát đã được thông qua, Thường trực Hội đồng nhân dân phân công thành viên Thường trực Hội đồng nhân dân thực hiện các nội dung trong chương trình; có thể giao các Ban của Hội đồng nhân dân thực hiện một số nội dung thuộc chương trình và báo cáo kết quả với Thường trực Hội đồng nhân dân khi cần thiết.