vanban.org

Điều 41 — Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân số 11/2003/QH11

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/08/2010 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/01/2016 Đính chính: 284/2014/QĐ-UBND · 26/06/2014 Thay thế: 55/2010/QĐ-UBND · 03/08/2010
Quốc hội Ban hành 26/11/2003 Hiệu lực 10/12/2003 Hết hiệu lực toàn bộ 4 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 6 phiên bản · 63 năm
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2003 · 11/2003/QH11
01/01/201677/2015/QH13Sửa đổi Đang xem 10/12/2003Bản gốcThay thế
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1994
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1989 · 19/LCT/HĐNN8
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1983
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp 1962 · Số hiệu: 51/LCT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 11/2003/QH11 › Chương II › Mục 4 › Điều 41
Đọc toàn văn

Điều 41

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Người bị chất vấn phải trả lời về những vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn.

Trong thời gian Hội đồng nhân dân họp, đại biểu Hội đồng nhân dân gửi chất vấn đến Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp. Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân tại kỳ họp đó. Trong trường hợp cần điều tra, xác minh thì Hội đồng nhân dân có thể quyết định cho trả lời tại kỳ họp sau của Hội đồng nhân dân hoặc cho trả lời bằng văn bản gửi đến đại biểu đã chất vấn và Thường trực Hội đồng nhân dân.

Trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân, chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân được gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp để chuyển đến người bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất vấn.