vanban.org

Điều 76 — Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 17/04/1997 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/01/2011 Sửa đổi, bổ sung: 31/2001/QH10 · 25/12/2001
Quốc hội Ban hành 15/04/1997 Hiệu lực 17/04/1997 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 4 đời luật · 5 phiên bản · 66 năm
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1997
01/01/201163/2010/QH12Sửa đổi Hiện hành 07/01/200231/2001/QH10Chưa hợp nhất 17/04/1997Bản gốcThay thế
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1992 · 67-LCT/HĐNN8
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1980
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1959
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật Không số › Chương VII › Mục 4 › Điều 76
Đọc toàn văn

Điều 76

Sau khi nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và giải quyết các khiếu nại, tố cáo (nếu có), Hội đồng bầu cử lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước.

Biên bản phải ghi rõ:

Tổng số đại biểu Quốc hội được bầu;

Tổng số người ứng cử;

Tổng số cử tri;

Tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu;

Tỷ lệ cử tri đã tham gia bỏ phiếu so với tổng số cử tri;

Số phiếu hợp lệ;

Số phiếu không hợp lệ;

Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

Danh sách những người trúng cử;

Những khiếu nại, tố cáo do Hội đồng bầu cử giải quyết;

Những việc quan trọng đã xảy ra và cách giải quyết.

Biên bản được lập thành năm bản, có chữ ký của Chủ tịch, Tổng thư ký Hội đồng bầu cử. Biên bản được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; một bản trình Quốc hội khoá mới và một bản lưu trữ.