vanban.org

Điều 69 — Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 17/04/1997 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/01/2011 Sửa đổi, bổ sung: 31/2001/QH10 · 25/12/2001
Quốc hội Ban hành 15/04/1997 Hiệu lực 17/04/1997 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 4 đời luật · 5 phiên bản · 66 năm
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1997
01/01/201163/2010/QH12Sửa đổi Hiện hành 07/01/200231/2001/QH10Chưa hợp nhất 17/04/1997Bản gốcThay thế
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1992 · 67-LCT/HĐNN8
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1980
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1959
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật Không số › Chương VII › Mục 2 › Điều 69
Đọc toàn văn

Điều 69

Sau khi nhận được biên bản kết quả kiểm phiếu của các Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra các biên bản đó và lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình.

Biên bản phải ghi rõ:

Số đại biểu Quốc hội được ấn định cho đơn vị bầu cử;

Số người ứng cử;

Tổng số cử tri của đơn vị bầu cử;

Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu;

Tỷ lệ cử tri đã tham gia bỏ phiếu so với tổng số cử tri;

Số phiếu hợp lệ;

Số phiếu không hợp lệ;

Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

Danh sách những người trúng cử;

Những khiếu nại do các Tổ bầu cử đã giải quyết, những khiếu nại do Ban bầu cử giải quyết, những khiếu nại chuyển đến Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng bầu cư.

Biên bản được thành lập thành năm bản, có chữ ký của Trưởng ban, các Phó Trưởng ban và Thư ký. Biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử, Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chậm nhất là năm ngày sau ngày bầu cử.