vanban.org

Điều 7. Bồi thường, hỗ trợ do phải di dời mồ mả khi Nhà nước thu hồi đất (quy định chi tiết khoản 2 Điều 15 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ) — Văn bản hợp nhất 4096/VBHN-QĐ-UBND

UBND Tỉnh Lâm Đồng Ban hành 13/08/2026 Chưa xác định
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Văn bản hợp nhất 4096/VBHN-QĐ-UBND › Chương II › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Bồi thường, hỗ trợ do phải di dời mồ mả khi Nhà nước thu hồi đất (quy định chi tiết khoản 2 Điều 15 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP)

1. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm bố trí quỹ đất trong các nghĩa trang theo quy hoạch để di dời mồ mả khi thu hồi đất. Mức bồi thường để di dời mồ mả (mộ) đến nghĩa trang của địa phương quy định như sau:

a) Đối với mộ đất (Mộ chưa xây dựng): 15.000.000 đồng/mộ (Mười lăm triệu đồng một mộ);

b) Đối với mộ xây đơn giản: 20.000.000 đồng/mộ (Hai mươi triệu đồng một mộ);

c) Đối với mộ xây có kiến trúc đặc biệt (phần mộ nổi có mái che, cột trụ, lan can, bậc thang, hoa văn trạm khắc cầu kỳ, lăng mộ gia tộc, hoặc phần mộ nổi được ốp gạch, đá cao cấp như gạch ceramic, đá hoa cương, đã granite...): Mức bồi thường 15.000.000 đồng/mộ (mười lăm triệu đồng), cộng (+) chi phí của phần xây dựng phần mộ nổi di dời (phần kiến trúc trên mặt đất). Đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phối hợp với chủ đầu tư và cơ quan chuyên môn tại địa phương cấp xã nơi có đất thu hồi thực hiện bóc tách cấu kiện phần xây dựng mộ nổi, áp dụng đơn giá xây dựng quy định tại bảng giá do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành (đối với những khối lượng, nội dung công việc không có đơn giá quy định thì tính toán theo thực tế hợp lý bảo đảm phù hợp với đặc điểm của từng ngôi mộ) để tính toán, xác định chi phí đối với phần mộ nổi xây dựng phải di dời, nhưng tối thiểu không thấp hơn 5.000.000 đồng/mộ (Năm triệu đồng một mộ).

2. Trường hợp tự thu xếp việc di chuyển mồ mả ngoài khu vực được bố trí hoặc thực hiện theo hình thức hoả táng, lưu giữ tro cốt tại các cơ sở lưu giữ tro cốt thì ngoài việc được bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này (theo từng trường hợp) được hỗ trợ thêm 5.000.000 đồng/mộ (Năm triệu đồng một mộ). Vị trí di chuyển mồ mả ngoài khu vực được bố trí phải đảm bảo khoảng cách an toàn vệ sinh môi trường đối với nguồn nước sinh hoạt, kênh mương thủy lợi và khu dân cư theo quy chuẩn kỹ thuật hiện hành.

3[4]. Đối với mồ mả vô chủ: Đơn vị, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ký hợp đồng với đơn vị phục vụ mai táng của địa phương theo chi phí thực tế hợp lý, nhưng tối đa không vượt quá mức bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này để tổ chức bốc mồ mả, cải táng trong các nghĩa trang theo quy hoạch và thực hiện các nội dung: Vẽ sơ đồ, tọa độ các mồ mả, chụp ảnh, lưu giữ toàn bộ các hồ sơ của mồ, mả trước và sau khi hoàn thành việc di dời, cải táng, để thân nhân nhận lại mồ mả sau này (nếu có); hồ sơ lưu trữ đối với mồ mả vô chủ được thực hiện theo quy định về việc lưu trữ đối với hồ sơ bồi thường, giải phóng mặt bằng.

4. Chi phí bồi thường, hỗ trợ tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều này được xác lập và phê duyệt trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trình thẩm định và phê duyệt theo trình tự quy định.