Điều 2. Nguyên tắc thực hiện
1. Đảm bảo đúng nguyên tắc thực hiện được quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 29/2026/QH16. Nghiêm cấm lợi dụng việc áp dụng các quy định của Nghị quyết số 29/2026/QH16 để bao che hành vi vi phạm, hợp pháp hóa sai phạm, trốn tránh trách nhiệm pháp lý hoặc trục lợi chính sách; mọi hành vi vi phạm phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
2. Việc thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù phải bảo đảm đúng đối tượng, đủ điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 29/2026/QH16 và Thông tư liên tịch này.
3. Việc xem xét, áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phải gắn với việc giải quyết khó khăn, vướng mắc của dự án, công trình, bảo đảm khắc phục hậu quả thiệt hại và không làm đình trệ việc tiếp tục thực hiện, hoàn thành, khai thác, sử dụng dự án, công trình khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội trong cùng một vụ việc, vụ án, trong đó chỉ có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 29/2026/QH16 thì cơ chế, chính sách đặc thù được áp dụng để xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai; việc xử lý các hành vi phạm tội khác được thực hiện theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp trong cùng một vụ án có nhiều bị can, trong đó có một hoặc một số bị can thuộc đối tượng áp dụng Nghị quyết số 29/2026/QH16 thì việc áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù chỉ thực hiện đối với một hoặc một số bị can đó; việc điều tra, truy tố vụ án vẫn được tiến hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
6. Việc phối hợp thực hiện giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả trong việc xác định các điều kiện, trình tự, thủ tục áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù; bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện.