vanban.org

Điều 10. Phối hợp trong việc xem xét áp dụng cơ chế không khởi tố vụ án hình sự, tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, tạm đình chỉ điều tra và tạm đình chỉ vụ án — Thông tư liên tịch 14/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 08/10/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Ban hành 08/10/2026 Hiệu lực 08/10/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư liên tịch 14/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC › Chương II › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Phối hợp trong việc xem xét áp dụng cơ chế không khởi tố vụ án hình sự, tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, tạm đình chỉ điều tra và tạm đình chỉ vụ án

1. Trong quá trình giải quyết vụ việc, điều tra vụ án hình sự, nếu có căn cứ xác định vụ việc có dấu hiệu thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 29/2026/QH16 thì Cơ quan điều tra chủ trì rà soát; Viện kiểm sát có thẩm quyền phối hợp đánh giá điều kiện áp dụng theo quy định của pháp luật; cơ quan có thẩm quyền có liên quan phối hợp thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

2. Trường hợp vụ án đã được chuyển sang Viện kiểm sát có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật mà phát sinh căn cứ xem xét áp dụng chính sách của Nghị quyết số 29/2026/QH16 thì Viện kiểm sát chủ trì việc rà soát, Cơ quan điều tra phối hợp để đánh giá tài liệu, chứng cứ đã thu thập. Trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung tài liệu, chứng cứ về nội dung chưa rõ hoặc phối hợp làm việc với cơ quan quản lý nhà nước, giải trình các vấn đề có liên quan; việc yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

3. Trường hợp cần thiết, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý giải quyết vụ việc, điều tra vụ án chủ trì trao đổi bằng văn bản với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan; cơ quan được đề nghị có trách nhiệm trả lời trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản và tài liệu có liên quan. Trường hợp cần thiết tổ chức họp thì phải lập biên bản, ghi rõ ý kiến của các bên và kết quả trao đổi.

4. Trường hợp các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng còn có ý kiến khác nhau về việc đánh giá điều kiện áp dụng chính sách của Nghị quyết số 29/2026/QH16 thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ việc, vụ án chủ trì trao đổi, thống nhất. Trường hợp không thống nhất được thì cơ quan đang thụ lý vụ việc, vụ án quyết định theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và pháp luật có liên quan.

5. Trường hợp cần có ý kiến của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đánh giá về dự án, công trình, hiệu quả kinh tế - xã hội, kết quả khắc phục hậu quả thiệt hại hoặc các nội dung khác liên quan đến điều kiện áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ việc, vụ án chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan để thu thập, xác minh, làm rõ theo thẩm quyền. Các tài liệu, văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp phục vụ việc xem xét áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù phải được kiểm tra, đánh giá cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ việc, vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

6. Việc phối hợp thực hiện quy định tại Điều này không làm thay đổi thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 29/2026/QH16.