Điều 9 về "Xí nghiệp liên kết" quy định trong trường hợp các nghiệp vụ kinh tế giữa hai xí nghiệp liên kết ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ, chuyển giao công nghệ, hợp đồng tín dụng, thanh toán tiền lãi cổ phần, lãi từ tiền cho vay, không được thực hiện trên cơ sở giá thị trường như được áp dụng trong trường hợp các nghiệp vụ kinh tế giữa hai xí nghiệp độc lập, cơ quan thuế của một nước sẽ có quyền tính toán và ấn định lại giá cả ghi trên các hợp đồng phù hợp với giá cả thực tế trên thị trường để xác định lợi tức chịu thuế thực tế của một xí nghiệp tại Nước ký kết đó.
5. Thu nhập từ tiền lãi cổ phần:
5.1. Điều 10 về "Tiền lãi cổ phần" quy định việc thu thuế đối với tiền lãi cổ phần do một công ty là đối tượng cư trú của Việt Nam trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. Quy định tại Điều 10 không áp dụng đối với tiền lãi cổ phần do công ty là đối tượng cư trú của Việt Nam trả cho một cơ sở thường trú của một công ty khác của Việt Nam đặt tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam.
5.2- Căn cứ khoản 2 Điều 10 của Hiệp định và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trường hợp xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty liên doanh cho thuê tài chính, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam trích lợi tức chuyển cho bên nước ngoài, cơ quan thuế áp dụng thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài theo thuế suất quy định tại Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong trường hợp thuế suất quy định tại Luật đầu tư nước ngoài cao hơn thuế suất giới hạn quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 10 của từng Hiệp định với từng nước thì thuế suất giới hạn quy định tại Hiệp định sẽ được áp dụng đối với tiền lãi cổ phần tương ứng.
Ví dụ một công ty của Anh đầu tư 4 triệu đôla Mỹ chiếm 60% vốn pháp định của một liên doanh tại Việt Nam. Theo Nghị định 12/CP quy định thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, khi liên doanh trích chuyển lợi nhuận cho bên nước ngoài tại Anh sẽ phải nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài là 10% lợi nhuận chuyển ra nước ngoài. Tuy nhiên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 10 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và Anh, liên doanh trên chỉ phải nộp thuế chuyển lợi nhuận nước ngoài với thuế suất bằng 7% lợi nhuận chuyển ra nước ngoài.
6- Thu nhập từ lãi từ tiền cho vay:
6.1- Điều 11 về "Lãi từ tiền cho vay" quy định việc thu thuế đối với lãi từ tiền cho vay phát sinh tại Việt Nam trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. Quy định tại Điều 11 không áp dụng đối với lãi từ tiền cho vay phát sinh tại Việt Nam trả cho một cơ sở thường trú của một công ty khác của Việt Nam đặt tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam.
6.2- Hiện tại Việt Nam chưa đánh thuế thu nhập đối với các khoản lãi từ tiền cho vay do các tổ chức, cá nhân Việt Nam trả cho các đối tượng cư trú của nước ngoài. Trường hợp sau này Nhà nước ban hành thuế thu nhập đối với lãi từ tiền cho vay, căn cứ vào quy định tại Hiệp định, mức thuế khi đó được áp dụng đối với lãi từ tiền cho vay trả cho đối tượng cư trú tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam sẽ không vượt quá mức thuế suất giới hạn quy định tại khoản 2 Điều 11.
7- Thu nhập từ tiền bản quyền:
7.1- Điều 12 về "Tiền bản quyền" quy định việc thu thuế đối với tiền bản quyền phát sinh tại Việt Nam trả cho một đối tượng thực hưởng là một đối tượng cư trú tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. Quy định tại Điều 12 không áp dụng đối với tiền bản quyền phát sinh tại Việt Nam trả cho một cơ sở thường trú của một công ty khác của Việt Nam đặt tại Nước ký kết Hiệp định.
7.2- Căn cứ khoản 2 Điều 12 của Hiệp định và quy định hiện hành về thuế đối với thu nhập từ tiền bản quyền (Thông tư số 08 TC/TCT ngày 05 tháng 02 năm 1994 của Bộ Tài chính hướng dẫn), trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam trả tiền bản quyền cho một đối tượng thực hưởng là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam, cơ quan thuế sẽ áp dụng thuế đối với tiền bản quyền (theo thuế suất quy định tại khoản 1 mục III Thông tư 08 TC/TCT ngày 05 tháng 02 năm 1994). Tuy nhiên trong trường hợp thuế suất đối với tiền bản quyền tại Việt Nam (hiện tại quy định tại Thông tư 08 TC/TCT) cao hơn thuế suất giới hạn quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 12 của từng Hiệp định với từng nước thì thuế suất giới hạn quy định tại Hiệp định sẽ được áp dụng đối với tiền bản quyền tương ứng.
Ví dụ một liên doanh pha chế dầu nhờn tại Việt Nam ký kết hợp đồng với một công ty của Anh trong đó quy định công ty Anh chuyển giao cho liên doanh Việt Nam công thức pha dầu nhờn theo nhãn hiệu thương mại của Công ty Anh trong thời hạn 10 năm. Khi liên doanh Việt Nam trả tiền bản quyền cho Công ty Anh theo hợp đồng trên theo Thông tư số 08 TC/TCT liên doanh phải khấu trừ thuế trên tiền bản quyền là 15% tổng số tiền bản quyền để nộp cho ngân sách. Tuy nhiên căn cứ khoản 2 Điều 12 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và Anh, liên doanh chỉ phải khấu trừ 10% tổng số tiền bản quyền để nộp cho ngân sách.
8. Lợi tức từ chuyển nhượng tài sản:
8.1. Điều 13 về "Lợi tức từ chuyển nhượng tài sản" quy định việc thu thuế đối với lợi tức do một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thu được từ việc chuyển nhượng tài sản tại Việt Nam. 8.2. Trường hợp đối tượng cư trú tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam chuyển nhượng bất động sản nằm tại Việt Nam sẽ phải nộp thuế đối với lợi tức chuyển nhượng bất động sản theo quy định tại Luật thuế Việt Nam.
Ví dụ 1: Người Việt Nam hiện tại là đối tượng cư trú tại Đức, chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Việt Nam, sẽ phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất theo quy định tại Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất của Việt Nam.
Ví dụ 2: Hãng khai thác dầu mỏ của Pháp chuyển nhượng quyền khai thác dầu mỏ tại một địa điểm trên vùng biển Việt Nam, thu nhập nhận được sẽ được cộng vào thu nhập của bên nước ngoài tham gia hợp đồng khai thác để xác định lợi tức chịu thuế theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
8.3. Trường hợp bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh tại Việt Nam, hay các nhà thầu nước ngoài hoạt động tại Việt Nam không theo các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, chuyển nhượng các tài sản kinh doanh của cơ sở thường trú của bên nước ngoài hay nhà thầu nước ngoài đó có tại Việt Nam có lợi tức sẽ phải nộp thuế tại Việt Nam theo quy định tại Luật đầu tư nước ngoài hay Luật thuế lợi tức.
Ví dụ: Công ty xây dựng của Nhật tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh với Công ty Việt Nam xây dựng một nhà máy tại Việt Nam. Theo giấy phép đầu tư, công ty xây dựng của Nhật phải nộp thuế lợi tức là 25%. Kết thúc công trình xây dựng, công ty xây dựng của Nhật chuyển nhượng toàn bộ các máy móc xây dựng công trình cho công ty Việt Nam. Lợi tức thu được từ việc chuyển nhượng trên của công ty của Nhật phải nộp thuế tại Việt Nam theo thuế suất 25%.
8.4. Trường hợp hãng vận tải hàng không, hàng hải của nước ngoài hoạt động tại Việt Nam có chuyển nhượng máy bay, tàu thuỷ hoạt động trong vận tải quốc tế theo định nghĩa tại điểm d khoản 1 mục Thông tư này cho bên Việt Nam và thu được lợi tức, lợi tức từ việc chuyển nhượng đó sẽ không phải nộp thuế tại Việt Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 13.
8.5. Trường hợp bên nước ngoài chuyển nhượng vốn trong các doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài như xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty liên doanh cho thuê tài chính, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài, các bên hợp doanh trong các hợp đồng hợp tác kinh doanh và thu được lợi nhuận là phần chênh lệch giữa giá trị chuyển nhượng với giá trị gốc sẽ phải nộp thuế lợi tức, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài nếu chuyển lợi nhuận ra nước ngoài (theo hướng dẫn tại Nghị định 12/CP ngày 10 tháng 02 năm 1997 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Thông tư số 96 TC/TCT ngày 30/12/1995 của Bộ Tài chính về thuế đối với các trường hợp chuyển nhượng vốn).
8.6. Các trường hợp chuyển nhượng tài sản khác tại Việt Nam của đối tượng cư trú của nước ngoài sẽ không phải nộp thuế lợi tức, thuế thu nhập tại Việt Nam.
9. Thu nhập từ hoạt động ngành nghề độc lập:
9.1. Điều 14 về "Hoạt động ngành nghề độc lập" quy định việc thu thuế đối với thu nhập do một cá nhân là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thu được từ hoạt động độc lập cung ứng các dịch vụ ngành nghề tự do như dịch vụ khoa học, văn học, nghệ thuật, giáo dục hay giảng dạy, cụ thể là hoạt động hành nghề độc lập của các thầy thuốc, bác sĩ, luật sư, kỹ sư, kiến trúc sư, nha sĩ và người hành nghề kế toán. Điều 14 không áp dụng đối với các hoạt động kinh doanh công, thương nghiệp, hoạt động làm thuê và hoạt động trình diễn độc lập của các nghệ sĩ và vận động viên.
9.2. Trường hợp cá nhân là đối tượng cư trú của nước ngoài tiến hành hoạt động dịch vụ ngành nghề độc lập như nêu tại điểm 9.1 thông qua một địa điểm kinh doanh cố định tại Việt Nam và có đăng ký hoạt động kinh doanh với cơ quan thuế, cơ quan thuế sẽ áp dụng thu thuế theo các quy định về thuế đối với nhà thầu nước ngoài hoạt động tại Việt Nam không theo các hình thức quy định tại Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (được hướng dẫn tại Thông tư số 37 TC/TCT ngày 10/5/1995 của Bộ Tài chính).
9.3. Trường hợp cá nhân là đối tượng cư trú của nước ngoài tiến hành hoạt động dịch vụ ngành nghề độc lập như nêu tại điểm 9.1, không phải thông qua một cơ sở kinh doanh cố định tại Việt Nam, nhưng có thời gian hoạt động tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế, cơ quan thuế sẽ áp dụng việc thu thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Thông tư số 39 TC/TCT ngày 26/6/1997 của Bộ Tài chính đối với thu nhập từ hoạt động dịch vụ ngành nghề nói trên.
9.4. Trường hợp cá nhân là đối tượng cư trú của nước ngoài, tiến hành hoạt động dịch vụ ngành nghề độc lập như nêu tại điểm 9.1 không phải thông qua một cơ sở kinh doanh cố định tại Việt Nam và trong năm tính thuế cá nhân đó có thời gian hoạt động tại Việt Nam dưới 183 ngày, cơ quan thuế sẽ không thu thuế thu nhập đối với thu nhập từ hoạt động dịch vụ ngành nghề độc lập nói trên.
10. Thu nhập từ hoạt động dịch vụ cá nhân phụ thuộc:
10.1. Điều 15 về "Hoạt động dịch vụ ngành nghề phụ thuộc" quy định việc thu thuế đối với thu nhập dưới hình thức tiền công do một đối tượng cư trú tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam nhận được từ hoạt động làm công tại Việt Nam. Quy định tại Điều 15 không áp dụng đối với tiền công của các cá nhân phục vụ cho Chính phủ nước ngoài, cá nhân là thành viên ban Giám đốc Công ty, cá nhân là nghệ sĩ và vận động viên và không áp dụng đối với tiền công dưới hình thức tiền lương hưu.
10.2. Trường hợp cá nhân là người nước ngoài hay người Việt Nam không phải là đối tượng cư trú của Việt Nam theo quy định tại Điều 4 của Hiệp định có thu nhập từ hoạt động làm công tại Việt Nam sẽ phải nộp thuế thu nhập tại Việt Nam theo các quy định hiện hành tại Thông tư số 39 TC/TCT ngày 26/6/1997 của Bộ Tài chính về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Tuy nhiên, theo quy định tại Hiệp định trong trường hợp đồng thời thoả mãn cả 3 điều kiện sau đây, tiền công thu được từ công việc thực hiện tại Việt Nam sẽ được miễn thuế thu nhập tại Việt Nam:
a. Cá nhân đó có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong giai đoạn 12 tháng bắt đầu hay kết thúc trong năm tính thuế; và
b. Đối tượng trả tiền công hay chủ thuê lao động không phải là đối tượng cư trú tại Việt Nam; và
c. Tiền công đó không được phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh của một cơ sở thường trú mà đối tượng trả tiền công có đặt tại Việt Nam.
10.3. Trường hợp người Việt Nam là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam không có thu nhập từ hoạt động làm công tại Việt Nam mà chỉ có thu nhập từ hoạt động làm công tại nước ngoài sẽ không phải nộp thuế thu nhập tại Việt Nam theo quy định tại Hiệp định.
11. Thu nhập từ tiền lương của Giám đốc:
11.1. Điều 16 về "Tiền lương của Giám đốc" quy định việc thu thuế đối với thu nhập là tiền lương do một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam nhận được tại Việt Nam với tư cách là thành viên ban Giám đốc công ty, Hội đồng quản trị công ty hay với tư cách là người giữ chức vụ quản lý cao cấp trong một công ty là đối tượng cư trú của Việt Nam. Quy định tại Điều 16 không áp dụng đối với tiền lương khác do các thành viên trên nhận được từ việc thực hiện các chức năng khác trong Công ty như người làm công, người tư vấn, cố vấn và không áp dụng đối với tiền lương của các cá nhân nước ngoài giữ chức vụ trong văn phòng đại diện các công ty nước ngoài đặt tại Việt Nam. Các khoản thu nhập thông thường đó chịu sự điều chỉnh của Điều 15 "Hoạt động dịch vụ cá nhân phụ thuộc".
11.2. Theo quy định tại Điều 16 của Hiệp định, trường hợp cá nhân là đối tượng cư trú tại nước ngoài nhận được tiền lương, tiền công với tư cách là thành viên ban Giám đốc công ty, Hội đồng quản trị công ty hay với tư cách là người giữ chức vụ quản lý cao cấp trong công ty là đối tượng cư trú của Việt Nam, cá nhân đó sẽ phải nộp thuế đối với khoản thu nhập đó theo các quy định tại Thông tư số 39 TC/TCT ngày 26/6/1997 của Bộ Tài chính về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.
Ví dụ: Một người Anh là thành viên Hội đồng quản trị của một liên doanh tại Việt Nam. Trong năm 1995 người đó chỉ sang Việt Nam làm việc với tổng số 60 ngày. Căn cứ Hiệp định giữa Việt Nam và Anh và Thông tư số 39 TC/TCT ngày 26/6/1997 về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Giám đốc người Anh nói trên phải nộp thuế thu nhập đối với tiền lương nhận được với tư cách làm Giám đốc của liên doanh tại Việt Nam với thuế suất là 10% tính trên tổng thu nhập nhận được của đối tượng không cư trú.
12. Thu nhập của các nghệ sĩ và vận động viên:
12.1. Điều 17 về "Nghệ sĩ và vận động viên" quy định về việc thu thuế đối với thu nhập của các nghệ sĩ, vận động viên, Công ty biểu diễn là đối tượng cư trú tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thu được từ hoạt động trình diễn nghệ thuật, thể thao tại Việt Nam.
12.2. Căn cứ khoản 1 Điều 17 trường hợp cá nhân là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam có thu nhập từ hoạt động trình diễn nghệ thuật, thể thao tại Việt Nam:
a. Nếu có đăng ký kinh doanh trình diễn nghệ thuật, thể thao và đăng ký thuế với cơ quan thuế, sẽ nộp thuế lợi tức đối với thu nhập từ hoạt động trình diễn theo Luật thuế lợi tức tại Việt Nam.
b. Nếu không có đăng ký kinh doanh trình diễn nghệ thuật, thể thao, sẽ nộp thuế thu nhập cá nhân theo Thông tư số 39 TC/TCT ngày 26/6/1997 của Bộ Tài chính về thuế đối với người có thu nhập cao.
12.3. Căn cứ khoản 2 Điều 17 trường hợp công ty biểu diễn là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam có thu nhập từ hoạt động trình diễn nghệ thuật, thể thao tại Việt Nam sẽ phải nộp thuế tại Việt Nam theo hướng dẫn tại Thông tư số 37 TC/TCT ngày 10/5/1995 của Bộ Tài chính.
12.4. Trường hợp hoạt động trình diễn nghệ thuật, thể thao của cá nhân, công ty là đối tượng cư trú tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam được thực hiện trong khuôn khổ chương trình trao đổi văn hoá giữa Chính phủ hai nước, thì thu nhập từ hoạt động trình diễn tại Việt Nam của cá nhân, công ty nước ngoài sẽ được miễn thuế tại Việt Nam.
13. Thu nhập từ tiền lương hưu:
13.1. Điều 18 về "Tiền lương hưu" quy định về việc thu thuế đối với thu nhập từ tiền lương hưu do đối tượng cư trú của nước ký kết Hiệp định với Việt Nam nhận được từ công việc trước đây làm tại Việt Nam. Quy định tại Điều 18 không áp dụng đối với tiền lương hưu do Chính phủ, cơ quan chính quyền địa phương của Việt Nam và Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam chi trả.
13.2. Theo quy định tại Điều 18, trường hợp một đối tượng cư trú tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam có thu nhập là tiền lương hưu từ công việc trước đây làm tại Việt Nam sẽ không phải nộp thuế thu nhập tại Việt Nam.
Ví dụ một người Anh trong thời gian làm việc tại Việt Nam có đóng tiền bảo hiểm vào quỹ lương hưu tại một Công ty bảo hiểm tại Việt Nam. Khi nghỉ hưu người đó trở về Anh sinh sống và là đối tượng cư trú của Anh. Tiền lương hưu người đó nhận được từ quỹ bảo hiểm lương hưu tại Việt Nam nói trên sẽ không phải nộp thuế tại Việt Nam.
14. Thu nhập từ hoạt động phục vụ Nhà nước:
14.1. Điều 19 về "Hoạt động phục vụ Nhà nước" quy định việc thu thuế đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương, tiền lương hưu do Chính phủ, chính quyền địa phương của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam trả cho người nước ngoài tại Việt Nam để người đó thực hiện các nhiệm vụ cho Chính phủ của Nước ký kết đó. Điều 19 không áp dụng đối với tiền lương, tiền lương hưu do Chính phủ nước ngoài trả cho người Việt Nam hay trả cho cá nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh của Chính phủ nước ngoài tại Việt Nam như hoạt động của hãng vận tải đường sắt, bưu chính Nhà nước hay của Công ty biểu diễn của Nhà nước.
14.2. Trường hợp người nước ngoài do Chính phủ của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam cử sang Việt Nam làm việc cho các tổ chức của Chính phủ nước đó đặt tại Việt Nam hay cho các chương trình hợp tác kinh tế, văn hoá, viện trợ giữa hai nước, tiền lương, tiền công, tiền lương hưu của đối tượng đó do Chính phủ nước ngoài đó trả sẽ được miễn thuế thu nhập tại Việt Nam cho dù đối tượng đó là đối tượng cư trú hay không là đối tượng cư trú của Việt Nam.
15. Thu nhập của sinh viên, học sinh học nghề:
15.1. Điều 20 về "Sinh viên và học sinh học nghề" quy định việc thu thuế đối với thu nhập của sinh viên học sinh học nghề nước ngoài tại Việt Nam phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu, học nghề tại Việt Nam.
15.2. Trường hợp sinh viên, học sinh nước ngoài trước khi sang Việt Nam học tập, nghiên cứu, học nghề là đối tượng cư trú của nước ký Hiệp định với Việt Nam, sinh viên, học sinh nước ngoài đó sẽ được miễn thuế thu nhập tại Việt Nam đối với:
a. Thu nhập nhận được từ các nguồn tại nước ngoài để phục vụ cho mục đích học tập, sinh hoạt tại Việt Nam.
b. Thu nhập nhận được từ công việc tại Việt Nam có liên quan trực tiếp đến hoạt động học tập, nghiên cứu, học nghề tại Việt Nam, trong trường hợp Hiệp định có quy định cụ thể
16. Thu nhập của giáo viên, giáo sư và người nghiên cứu:
16.1. Trong một số Hiệp định có Điều 21 quy định riêng về việc thu thuế đối với thu nhập của giáo viên, giáo sư và người nghiên cứu nước ngoài từ hoạt động giảng dạy, thuyết trình, nghiên cứu tại Việt Nam. Điều 21 không áp dụng đối với thu nhập từ hoạt động nghiên cứu phục vụ mục đích riêng của một cá nhân, hay một tổ chức.
16.2. Trường hợp giáo viên, giáo sư, người nghiên cứu nước ngoài trước khi sang Việt Nam giảng dạy, thuyết trình, nghiên cứu là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam, giáo viên, giáo sư, người nghiên cứu đó sẽ được miễn thuế đối với tiền công từ hoạt động giảng dạy, thuyết trình, nghiên cứu đó trong thời gian 2 năm kể từ ngày đầu tiên người đó đến Việt Nam giảng dạy, thuyết trình hay nghiên cứu tại các trường đại học hay cơ sở giáo dục được Chính phủ Việt Nam chấp nhận.
17. Thu nhập khác:
17.1. Điều 22 về "Thu nhập khác" quy định việc thu thuế đối với các khoản thu nhập khác chưa được đề cập tại các điều khoản khác của Hiệp định như thu nhập từ trúng thưởng xổ số, thu nhập từ tiền cấp dưỡng thể theo nghĩa vụ hôn nhân gia đình.
17.2. Theo quy định tại Điều 22, trường hợp một đối tượng cư trú tại nước ký kết Hiệp định với Việt Nam có các khoản thu nhập khác từ Việt Nam như đề cập tại điểm 17.1 sẽ được miễn thuế tại Việt Nam.
III. BIỆN PHÁP TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN
Theo các quy định của Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và một Nước ký kết, trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam nhận được thu nhập từ Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam, việc đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và Nước ký kết kia sẽ được xử lý như sau:
1. Thu nhập từ tiền công, tiền lương hưu do Chính phủ của Nước ký kết Hiệp định chi trả theo quy định tại Điều 19, thu nhập có nguồn gốc từ nước ngoài của sinh viên, học sinh học nghề nước ngoài cư trú tại Việt Nam theo quy định tại Điều 20, thu nhập từ tiền công của giáo sư, giáo viên và nhà nghiên cứu nước ngoài cư trú tại Việt Nam trong giới hạn thời gian theo quy định tại Điều 21 sẽ được miễn thuế tại Việt Nam.
2. Thu nhập do một đối tượng cư trú của Việt Nam nhận được là tiền lãi cổ phần, lãi từ tiền cho vay hay tiền bản quyền phát sinh tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam theo thuế suất quy định tại Luật thuế của nước đó nhưng không vượt quá thuế suất giới hạn quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11, khoản 2 Điều 12 của Hiệp định tương ứng.
Theo quy định tại Điều 23 về "Biện pháp tránh đánh thuế hai lần", khi đối tượng cư trú của Việt Nam kê khai các khoản thu nhập nói trên tại Việt Nam, các khoản thu nhập đó sẽ được tính vào thu nhập chịu thuế tại Việt Nam theo quy định cụ thể tại Luật thuế Việt Nam và số tiền thuế đã nộp ở nước ngoài sẽ được khấu trừ vào số thuế phải nộp tại Việt Nam. Tuy nhiên, số thuế được khấu trừ không được vượt quá số thuế phải nộp tại Việt Nam tính trên thu nhập từ nước ngoài theo Luật thuế của Việt Nam.
Ví dụ 1: Một cá nhân là đối tượng cư trú của Việt Nam nhận được một khoản tiền bản quyền từ Singapore là 100. Theo Luật thuế thu nhập tại Singapore, người đó phải nộp thuế tại Singapore là 31% tổng thu nhập tiền bản quyền thu được tại Singapore. Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người thu nhập cao tại Việt Nam người đó phải nộp thuế thu nhập đối với thu nhập từ chuyển giao công nghệ là 5% tổng thu nhập. Căn cứ Hiệp định với Singapore, việc đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và Singapore được xử lý như sau:
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 12 - Tiền bản quyền - của Hiệp định, thu nhập của cá nhân trên sẽ chỉ phải nộp thuế tại Singapore theo thuế suất là 5% tổng số tiền bản quyền.
- Thuế phải nộp tại Singapore: 100 x 5% = 5 (1)
- Thuế thu nhập phải nộp tại Việt Nam: 100 x 5% = 5 (2)
- Thuế thu nhập phải nộp tại Việt Nam sau khi khấu trừ thuế đã nộp tại Singapore: (2) - (1) = 5 - 5 = 0
Ví dụ 2: cũng với số liệu như trên, nếu đối tượng cư trú tại Việt Nam nhận tiền bản quyền là một Công ty mà theo quy định tại Thông tư 08 TC/TCT ngày 5/2/1994 phải nộp thuế thu nhập tiền bản quyền là 10% tổng thu nhập thì việc đánh thuế hai lần được xử lý như sau:
- Thuế phải nộp tại Singapore: 100 x 5% = 5 (1)
- Thuế phải nộp tại Việt Nam: 100 x 10% = 10 (2)
- Thuế thu nhập phải nộp tại Việt Nam sau khi khấu trừ thuế đã nộp tại Singapore: ( 2) - (1) = 10 - 5 = 5
3. Thu nhập do một đối tượng cư trú của Việt Nam nhận được từ nước ký kết Hiệp định với Việt Nam theo quy định của Hiệp định tại các Điều 6 về "Thu nhập từ bất động sản", Điều 7 về "Lợi tức doanh nghiệp", Điều 13 về "Lợi tức từ chuyển nhượng tài sản", Điều 14 về "Thu nhập từ dịch vụ ngành nghề độc lập", Điều 15 về "Thu nhập từ lao động làm công", Điều 16 về "Tiền lương của giám đốc" và Điều 17 về "Thu nhập của nghệ sĩ và vận động viên", sẽ bị đánh thuế theo Luật thuế của nước ký kết Hiệp định với Việt Nam.
Theo quy định tại Điều 23 của Hiệp định, khi đối tượng cư trú đó của Việt Nam kê khai tại Việt Nam hoặc chuyển các khoản thu nhập nói trên vào Việt Nam, các khoản thu nhập đó sẽ được tính vào thu nhập chịu thuế tại Việt Nam theo quy định cụ thể tại Luật thuế Việt Nam và số tiền thuế đã nộp ở nước ngoài sẽ được khấu trừ vào số thuế phải nộp tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp số thuế được khấu trừ không vượt quá số thuế phải nộp tại Việt Nam tính trên thu nhập từ nước ngoài theo Luật thuế của Việt Nam.
Ví dụ: Một Công ty A của Việt Nam có một cơ sở thường trú ở Singapore. Trong năm 1993 có lợi tức chịu thuế là 1000, trong đó 300 là lợi tức từ thuế phát sinh ở Singapore. Thuế suất thuế lợi tức của Công ty A ở Việt Nam trong trường hợp 1 là 45% và trong trường hợp 2 là 25%; thuế suất thuế lợi tức ở Singapore là 30% thì việc tránh đánh thuế hai lần được thực hiện như sau:
a. Trường hợp 1: Thuế suất thuế lợi tức tại Việt Nam là 45%.
- Tính số thuế Công ty A đã nộp tại Singapore: 300 x 30% = 90 (1)
- Tính số thuế Công ty A phải nộp tại Việt Nam đối với phần thu nhập tại nước ngoài: 300 x 45% = 135 (2)
Như vậy số thuế nộp tại Singapore (90) thấp hơn số thuế nộp tại Việt Nam (135).
- Tính số thuế phải nộp tại Việt Nam sau khi khấu trừ thuế đã nộp tại Singapore:
1000 x 45% - 90 = 360
b. Trường hợp 2: Thuế suất thuế lợi tức tại Việt Nam là 25%.
- Tính số thuế Công ty A đã nộp tại Singapore: 300 x 30% = 90 (1)
- Tính số thuế Công ty A phải nộp tại Việt nam đối với phần thu nhập ở nước ngoài: 300 x 25% = 75 (2)
Như vậy số thuế đã nộp tại Singapore (90) cao hơn số thuế phải nộp tại Việt Nam (75) nên Công ty A chỉ được khấu trừ vào số thuế phải nộp tại Việt Nam bằng số thuế phải nộp tại Việt Nam tính trên thu nhập từ Singapore.
- Tính số thuế phải nộp tại Việt Nam sau khi khấu trừ thuế theo giới hạn số thuế phải nộp tại Việt Nam (75): 1000 x 25% - 75 = 175.
Trường hợp số thuế phải nộp tại Singapore trong ví dụ trên (trường hợp 1 và 2) được miễn giảm tại Singapore nhằm khuyến khích đầu tư, theo Hiệp định, Việt Nam vẫn coi số thuế đó đã nộp tại Singapore và cho phép khấu trừ vào thuế phải nộp tại Việt Nam như quy định tại trường hợp 1 và 2 trên đây.
4. Thu nhập do đối tượng cư trú của Việt Nam nhận được từ hoạt động vận tải quốc tế theo quy định tại Điều 8, từ chuyển nhượng tàu thuỷ, máy bay theo quy định tại khoản 3 Điều 13, thu nhập từ tiền lương hưu từ nguồn tại nước ngoài theo quy định tại Điều 18, các khoản thu nhập khác theo quy định tại Điều 22, thu nhập từ chuyển nhượng tài sản khác theo quy định tại khoản 5 Điều 13 phát sinh tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam sẽ được miễn thuế tại Nước đó. Nếu đối tượng cư trú đó của Việt Nam kê khai tại Việt Nam hoặc chuyển các khoản thu nhập nói trên vào Việt Nam thì các khoản thu nhập đó sẽ được tính vào thu nhập chịu thuế tại Việt Nam theo các quy định cụ thể tại Luật thuế Việt Nam.
IV. CÁC QUY ĐỊNH ĐẶC BIỆT VÀ HIỆU LỰC THI HÀNH
1. Không phân biệt đối xử: