Điều 7. Xây dựng chính sách, trình Chính phủ thông qua chính sách
Việc thực hiện quy trình xây dựng chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật được thực hiện như sau:
1. Bộ trưởng phân công một đơn vị thuộc Bộ có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp chủ trì lập đề xuất xây dựng chính sách cho từng văn bản quy phạm pháp luật trong Định hướng, Chương trình quy định tại Điều 5, Điều 6 Thông tư này.
2. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung chính sách thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từ hai đơn vị thuộc Bộ trở lên hoặc liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, ngành, tổ chức, cá nhân khác có liên quan, đơn vị lập đề xuất chính sách đề xuất kế hoạch dự kiến xây dựng chính sách; báo cáo Bộ trưởng xem xét sự cần thiết thành lập Ban chỉ đạo hoặc Tổ công tác thực hiện việc xây dựng chính sách. Trường hợp Bộ trưởng quyết định thành lập Ban chỉ đạo, Tổ công tác thực hiện việc xây dựng chính sách, đơn vị lập đề xuất chính sách đề xuất phân công nhiệm vụ cụ thể đối với thành viên Ban chỉ đạo hoặc Tổ công tác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, đơn vị, tổ chức đó tại quyết định thành lập.
3. Đơn vị thuộc Bộ quy định tại khoản 1 Điều này; cơ quan, tổ chức, cá nhân là thành viên Ban chỉ đạo hoặc Tổ công tác quy định tại khoản 2 Điều này chịu trách nhiệm về nội dung đề xuất, kết quả đề xuất và đánh giá tác động chính sách do mình thực hiện hoặc thực hiện theo phân công. Ý kiến tham gia của các cá nhân là ý kiến chính thức của cơ quan, tổ chức nơi công tác.
4. Đơn vị chủ trì lập đề xuất chính sách tự mình theo quy định tại khoản 1 Điều này hoặc thông qua Ban chỉ đạo hoặc Tổ Công tác quy định tại khoản 2 Điều này thực hiện xác định chính sách theo quy định tại Điều 28 của Luật. Đơn vị chủ trì lập đề xuất báo cáo kết quả tổng hợp xác định chính sách trình cấp có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư này xem xét, chấp thuận chủ trương.
5. Trên cơ sở chấp thuận chủ trương quy định tại khoản 4 Điều này, việc thực hiện đánh giá chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các hoạt động sau:
a) Tổ chức đánh giá tác động chính sách theo quy định tại Điều 29 của Luật và Điều 14 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP;
b) Lập hồ sơ chính sách theo quy định tại khoản 2 Điều 30 của Luật;
c) Tổ chức lấy ý kiến về hồ sơ chính sách theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 30 của Luật và khoản 6 Điều 1 Nghị định số 187/2025/NĐ-CP;
d) Tổ chức hội nghị tham vấn chính sách theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 30 của Luật và khoản 1 Điều 15 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP;
đ) Xây dựng bản tổng hợp ý kiến; tiếp thu, giải trình nghiêm túc, đầy đủ các ý kiến góp ý của các tổ chức, cá nhân, ý kiến của các tổ chức, cá nhân tại hội nghị tham vấn chính sách. Gửi Báo Công Thương để đăng tải bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Công Thương và đăng tải trên trang thông tin điện tử của đơn vị mình (nếu có) chậm nhất là 25 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn lấy ý kiến, thời gian đăng tải ít nhất là 30 ngày;
e) Đơn vị chủ trì lập đề xuất chủ trì, phối hợp với Báo Công Thương, Tạp chí Công Thương và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan tổ chức việc truyền thông chính sách từ thời điểm lấy ý kiến đến khi Chính phủ thông qua chính sách. Nội dung, hình thức truyền thông được thực hiện theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP và các nội dung khác mà đơn vị chủ trì lập đề xuất thấy cần thiết để đạt được hiệu quả và đồng thuận xã hội.
6. Đơn vị chủ trì lập đề xuất chính sách trình Lãnh đạo Bộ phụ trách để gửi hồ sơ đề xuất chính sách quy định tại khoản 2 Điều 31 của Luật và điểm a khoản 7 Điều 1 Nghị định số 187/2025/NĐ-CP đến Bộ Tư pháp để thẩm định.
7. Trường hợp ý kiến thẩm định là hồ sơ chính sách đủ điều kiện trình Chính phủ hoặc chỉ đủ điều kiện trình Chính phủ sau khi tiếp thu, hoàn thiện, đơn vị chủ trì lập đề xuất chính sách tổ chức việc nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý và hoàn thiện hồ sơ chính sách báo cáo cấp có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư này trước khi trình Bộ trưởng xem xét, quyết định việc trình Chính phủ.
8. Trường hợp ý kiến thẩm định là hồ sơ chính sách chưa đủ điều kiện trình Chính phủ, đơn vị chủ trì lập đề xuất chính sách tổ chức việc chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ chính sách, báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ trách gửi văn bản cho Bộ Tư pháp để thẩm định lại. Trong quá trình hoàn thiện hồ sơ chính sách làm thay đổi cơ bản, lược bỏ, bổ sung chính sách mới so với hồ sơ gửi thẩm định, đơn vị chủ trì lập đề xuất chính sách báo cáo cấp có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư này trước khi trình Bộ trưởng xem xét, quyết định việc trình Chính phủ.
9. Trong quá trình Chính phủ xem xét, quyết nghị thông qua chính sách, đơn vị chủ trì lập đề xuất chính sách có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị của Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan để tiếp thu, chỉnh lý hồ sơ chính sách theo chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền và kịp thời báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ trách. Trường hợp việc tiếp thu, chỉnh lý hồ sơ chính sách làm thay đổi cơ bản nội dung chính sách đã trình, lược bỏ, bổ sung chính sách mới so với hồ sơ trình, đơn vị lập đề xuất chính sách có trách nhiệm đánh giá bổ sung các nội dung thay đổi, lược bỏ, bổ sung mới đó, báo cáo cấp có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư này Bộ trưởng xem xét, quyết định trước khi trình lại Chính phủ.
Hồ sơ chính sách trình Chính phủ theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP.
10. Khi Chính phủ quyết nghị thông qua hồ sơ chính sách, đơn vị chủ trì lập đề xuất có trách nhiệm chỉnh lý hồ sơ chính sách theo quyết nghị của Chính phủ, báo cáo Bộ trưởng xem xét, thông qua làm cơ sở giao đơn vị thuộc Bộ thực hiện quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật để quy phạm hóa chính sách.