Điều 13. Khai thác và sử dụng dữ liệu
1. Hình thức khai thác dữ liệu gồm:
a) Khai thác trực tuyến trên hệ thống.
b) Khai thác thông qua kết nối, chia sẻ dữ liệu.
c) Khai thác thông qua dịch vụ dữ liệu.
d) Hình thức khác theo quy định của pháp luật.
2. Phân quyền khai thác dữ liệu:
a) Quyền khai thác dữ liệu được xác lập theo chức năng, nhiệm vụ và phạm vi quản lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân; chỉ được khai thác các trường thông tin cần thiết, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và mục đích đã đăng ký; không được sử dụng dữ liệu cho mục đích khác hoặc chia sẻ lại cho bên thứ ba khi chưa được phép.
b) Cơ quan, tổ chức, cá nhân chỉ được khai thác dữ liệu thuộc phạm vi được phân quyền. Đối với dữ liệu cá nhân, dữ liệu nhạy cảm, việc khai thác phải được phân quyền chặt chẽ, có cơ chế kiểm soát, ghi nhận lịch sử khai thác và tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
c) Mọi hoạt động khai thác dữ liệu phải được ghi nhận trên hệ thống.
d) Cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác dữ liệu không thuộc phạm vi được phân quyền khai thác phải gửi yêu cầu nêu rõ mục đích, phạm vi, nội dung và thời gian khai thác, sử dụng dữ liệu.
3. Sử dụng dữ liệu trong hoạt động quản lý nhà nước:
a) Dữ liệu trong cơ sở dữ liệu ngành Nội vụ được sử dụng phục vụ công tác quản lý nhà nước.
b) Dữ liệu được sử dụng để cắt giảm thành phần hồ sơ có trong thủ tục hành chính và tái sử dụng theo quy định.
4. Sử dụng dữ liệu mở trong hoạt động phát triển kinh tế số, xã hội số:
a) Dữ liệu mở của Bộ Nội vụ được công bố, chia sẻ trên Cổng dữ liệu mở quốc gia.
b) Dữ liệu mở của Bộ Nội vụ được chia sẻ, khai thác nhằm tăng cường chia sẻ dữ liệu, thúc đẩy sáng tạo, phát triển kinh tế số, xã hội số, bảo đảm an toàn thông tin của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.