Điều 6. Quản lý nguồn thu và quyết toán thu các quỹ bảo hiểm
1. Khi nhận được chứng từ liên quan của đơn vị sử dụng lao động nộp tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện hạch toán thu các quỹ theo thứ tự như sau:
a) Thu đủ tiền đóng vào quỹ bảo hiểm y tế, kể cả số tiền lãi phát sinh trong thời gian chậm đóng (nếu có).
b) Thu đủ tiền đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp, kể cả số tiền lãi phát sinh trong thời gian chậm đóng (nếu có).
c) Phần còn lại, hạch toán thu quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc. Nếu còn thiếu, cơ quan Bảo hiểm xã hội đôn đốc đơn vị sử dụng lao động thực hiện nộp ngay cho đủ.
2. Đối với số tiền lãi thu được do chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp dưới tổng hợp quyết toán riêng với Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Căn cứ số liệu quyết toán của địa phương, Bảo hiểm xã hội Việt Nam xử lý như sau:
a) Đối với số tiền lãi do chậm đóng bảo hiểm xã hội được tổng hợp quyết toán vào quỹ hưu trí và tử tuất.
b) Đối với số tiền lãi do chậm đóng bảo hiểm y tế được tổng hợp quyết toán vào quỹ dự phòng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế.
c) Đối với số tiền lãi do chậm đóng bảo hiểm thất nghiệp được tổng hợp quyết toán vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
3. Số quyết toán thu các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, gồm: số tiền thực thu của đối tượng trong năm, số tiền ngân sách nhà nước đóng hoặc hỗ trợ tiền đóng tương ứng (bao gồm số tiền cơ quan tài chính đã cấp và số còn phải cấp) và tiền lãi phạt do chậm đóng (nếu có).
4. Cơ quan Bảo hiểm xã hội các cấp phải mở sổ kế toán để theo dõi các khoản phải thu về nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, kể cả tiền lãi phạt do chậm đóng (nếu có) đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức có trách nhiệm đóng liên quan; định kỳ, tổng hợp báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.