Điều 3. Lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước
1. Việc lập dự toán, chấp hành và quyết toán kinh phí sự nghiệp từ nguồn ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, Nghị quyết số 262/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035, Nghị định số 358/2025/NĐ-CP, Quyết định số 37/2026/QĐ-TTg, Quyết định số 1709/QĐ-BYT, văn bản hướng dẫn của cơ quan chủ Chương trình, văn bản hướng dẫn của các bộ, cơ quan được phân công chủ trì nội dung hoạt động của các tiểu dự án, dự án thuộc Chương trình, quy định tại Thông tư này và các quy định của pháp luật liên quan. Các cơ quan, đơn vị được phân bổ và giao dự toán kinh phí thực hiện Chương trình chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí theo đúng quy định của pháp luật; bảo đảm sử dụng nguồn chi thường xuyên ngân sách nhà nước hiệu quả gắn với kết quả đầu ra, tránh thất thoát, lãng phí. Việc lồng ghép các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện Chương trình phải bảo đảm đúng mục tiêu, đối tượng, nội dung được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các nội dung, nhiệm vụ, hoạt động thuộc Chương trình đã được lập dự toán, sử dụng kinh phí và quyết toán từ nguồn kinh phí của các chương trình, đề án, dự án khác thì không được lập dự toán, sử dụng kinh phí và quyết toán từ nguồn kinh phí của Chương trình.
2. Các nhiệm vụ theo quy định tại Điều 40 Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 được cấp có thẩm quyền quyết định bố trí vốn từ nguồn chi thường xuyên thực hiện theo quy định tại Nghị định số 104/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Chính phủ quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán chi thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 40 Luật Ngân sách nhà nước và các quy định dưới đây:
a) Việc mua sắm tài sản, trang thiết bị, vật tư, hàng hóa, dịch vụ; thuê hàng hóa, dịch vụ: Thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu, pháp luật về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên, pháp luật về công nghệ thông tin (nếu có) và pháp luật có liên quan;
b) Việc sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng: Thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và quy định pháp luật có liên quan;
c) Các nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, nhiệm vụ quy hoạch: Thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về đầu tư công và pháp luật có liên quan;
d) Các nhiệm vụ cần thiết khác: Thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu, pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan.
3. Về sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ thuộc Chương trình
a) Đối với sản phẩm, dịch vụ thuộc Chương trình có trong danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước do cấp có thẩm quyền ban hành: Thực hiện theo quy định của pháp luật về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên; cơ quan, tổ chức được giao dự toán kinh phí thực hiện Chương trình xem xét, quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định thực hiện phương thức thực hiện theo quy định của pháp luật;
b) Trường hợp cơ quan, đơn vị cung cấp, thực hiện hàng hóa, dịch vụ thuộc Chương trình không có trong danh mục sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, cơ quan cấp trên giao nhiệm vụ và dự toán cho đơn vị dự toán trực thuộc thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ. Việc quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi, quy định của pháp luật về đấu thầu và pháp luật có liên quan.
4. Đối với các hoạt động, nhiệm vụ cơ quan, đơn vị được giao dự toán (Bên A) ký hợp đồng với các cơ quan, đơn vị khác thực hiện (Bên B) theo quy định của pháp luật, tài liệu làm căn cứ thanh toán, quyết toán được lưu tại Bên A gồm: Hợp đồng, biên bản nghiệm thu công việc, biên bản thanh lý hợp đồng, văn bản đề nghị thanh toán kinh phí của Bên B, ủy nhiệm chi hoặc phiếu chi và các tài liệu có liên quan khác. Các hóa đơn, chứng từ chi tiêu cụ thể do Bên B trực tiếp thực hiện lưu giữ theo quy định hiện hành. Bên B có trách nhiệm triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình đã ký kết, trực tiếp sử dụng kinh phí theo đúng quy định của pháp luật.
5. Đối với các nội dung có hỗ trợ hộ gia đình, việc hỗ trợ đối với hộ gia đình thực hiện thông qua người đại diện của gia đình là chủ hộ hoặc người đại diện cho hộ gia đình (là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, được ủy quyền bằng văn bản thay mặt gia đình nhận hỗ trợ). Cơ quan được giao nhiệm vụ hỗ trợ thực hiện lập bảng kê hỗ trợ hộ gia đình, trong đó ghi rõ họ và tên, mã định danh cá nhân, địa chỉ người đại diện hộ gia đình được hỗ trợ; số tiền hỗ trợ hoặc tên, số lượng, thông số kỹ thuật, ký hiệu, nhãn mác, đơn vị sản xuất của loại sản phẩm hiện vật được hỗ trợ; chữ ký (dấu tay điểm chỉ) của người đại diện hộ gia đình được hỗ trợ hoặc xác nhận của tổ chức dịch vụ chi trả (trong trường hợp thanh toán qua tổ chức dịch vụ chi trả) làm chứng từ thanh toán, quyết toán.
6. Các cơ quan, đơn vị chủ trì triển khai thực hiện nhiệm vụ của Chương trình xem xét, quyết định áp dụng đấu thầu mua sắm tập trung theo thẩm quyền đối với các hàng hóa, dịch vụ sử dụng ngân sách nhà nước thuộc Chương trình, đảm bảo tuân thủ theo quy định tại Điều 53 và Điều 54 Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung, bởi Luật số 57/2024/QH15, Luật số 90/2025/QH15, các văn bản hướng dẫn và quy định của pháp luật có liên quan.
7. Đối với các hoạt động, nhiệm vụ, nội dung chi thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu, thủ trưởng cơ quan, đơn vị được giao thực hiện nhiệm vụ quyết định việc chi tiêu trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, theo đúng quy định của pháp luật về đấu thầu, pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan, phù hợp với nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về quyết định của cơ quan, đơn vị.
8. Việc thanh toán các khoản chi thường xuyên thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia qua Kho bạc Nhà nước thực hiện theo quy định tại Nghị định số 347/2025/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ quy định về thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước.
9. Chứng từ thanh toán, quyết toán kinh phí thực hiện chi hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; đối tượng cư trú tại xã đặc biệt khó khăn, xã thuộc khu vực biên giới đất liền:
a) Đơn vị được giao nhiệm vụ thực hiện hoạt động hỗ trợ lập bảng kê chi hỗ trợ trực tiếp cho đối tượng hoặc hộ gia đình (ghi rõ các trường thông tin bắt buộc gồm: Họ và tên, mã định danh cá nhân, địa chỉ, số tiền hoặc tên, số lượng, thông số kỹ thuật của loại sản phẩm hiện vật được hỗ trợ và chữ ký (hoặc dấu tay điểm chỉ) của người nhận hỗ trợ có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Trạm Y tế xã thực hiện trên địa bàn làm chứng từ thanh toán, quyết toán);
b) Hồ sơ thanh toán, quyết toán gửi Kho bạc Nhà nước là Bảng kê chi hỗ trợ trực tiếp có chữ ký nhận của đối tượng (hoặc đại diện hộ gia đình) và có đóng dấu xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Trạm Y tế xã thực hiện trên địa bàn;
c) Danh sách ký nhận có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Trạm Y tế xã nêu tại điểm b khoản này là chứng từ quyết toán hợp lệ chứng minh tư cách đối tượng thụ hưởng. Đơn vị thanh toán không phải nộp kèm bản sao các loại giấy tờ chứng minh đối tượng (như Giấy chứng nhận hộ nghèo/cận nghèo, bản sao thẻ Căn cước hoặc các giấy tờ chứng minh cư trú khác).
10. Tài sản hình thành từ Chương trình được quản lý theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Nghị định số 186/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 286/2025/NĐ-CP.
11. Các cơ quan, đơn vị căn cứ quy định tại Quyết định số 1709/QĐ-BYT, văn bản hướng dẫn của cơ quan chủ Chương trình và hướng dẫn chuyên môn của các bộ, cơ quan trung ương được phân công chủ trì nội dung thuộc các tiểu dự án, dự án thuộc Chương trình để xác định các nội dung chi thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình. Các nội dung chi thực hiện theo mức chi tương ứng quy định tại Chương II, Chương III, Chương IV, Chương V, Chương VI và Chương VII Thông tư này.