Điều 17. Khai thác cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân ngoài Công an nhân dân theo quy định của pháp luật có nhu cầu khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu về thi hành án hình sự phải có văn bản đề nghị, trong đó nêu rõ mục đích, phạm vi, nội dung dữ liệu cần khai thác, sử dụng.
2. Thẩm quyền phê duyệt đề nghị khai thác, sử dụng dữ liệu về thi hành án hình sự được quy định như sau:
a) Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an phê duyệt yêu cầu khai thác dữ liệu về thi hành án hình sự thuộc phạm vi quản lý;
b) Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phê duyệt yêu cầu khai thác dữ liệu thuộc phạm vi trực tiếp quản lý của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh;
c) Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phê duyệt yêu cầu khai thác dữ liệu thuộc phạm vi đơn vị quản lý theo thẩm quyền.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền quản lý Cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự phải xem xét, trả lời bằng văn bản về việc khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu trừ trường hợp pháp luật có quy định thời hạn khác hoặc cần xác minh, xin ý kiến cơ quan có thẩm quyền; trường hợp từ chối cung cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Đối với trường hợp khẩn cấp phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội hoặc yêu cầu nghiệp vụ cấp bách khác theo quy định của pháp luật, việc khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu phải được xem xét, giải quyết ngay sau khi nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự được từ chối cung cấp dữ liệu trong các trường hợp sau đây:
a) Nội dung đề nghị không thuộc thẩm quyền cung cấp hoặc cho phép khai thác, sử dụng của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự;
b) Văn bản đề nghị không hợp lệ hoặc không xác định rõ mục đích, phạm vi, nội dung thông tin, dữ liệu cần khai thác, sử dụng;
c) Việc khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị hoặc vượt quá phạm vi cần thiết để thực hiện nhiệm vụ được giao;
d) Không có căn cứ pháp luật hoặc không đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ theo quy định;
đ) Việc cung cấp, chia sẻ hoặc khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu có nguy cơ làm lộ bí mật nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc vi phạm quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân;
e) Cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị không bảo đảm các điều kiện về an ninh, an toàn thông tin, an ninh dữ liệu theo quy định của pháp luật;
g) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
5. Việc khai thác dữ liệu về thi hành án hình sự trong Công an nhân dân được thực hiện như sau:
a) Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, trại giam, trại tạm giam, trường giáo dưỡng, Công an cấp xã được khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao thông qua tài khoản được cấp và phân quyền trên hệ thống cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự;
b) Cơ quan, đơn vị khác trong Công an nhân dân có nhu cầu khai thác dữ liệu về thi hành án hình sự thì thực hiện như quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này;
c) Trường hợp cơ quan, đơn vị quy định tại điểm a khoản này chưa được cấp tài khoản hoặc có nhu cầu khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu vượt quá phạm vi được phân quyền thì thực hiện theo quy định tại điểm b khoản này.