Điều 8. Nguyên tắc kiểm tra, giám sát
1. Việc kiểm tra, giám sát không làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng được kiểm tra, giám sát và cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác. Cơ quan thực hiện kiểm tra, giám sát được yêu cầu đối tượng được kiểm tra, giám sát cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo trong trường hợp có phản ánh, kiến nghị, dấu hiệu bất thường hoặc khi thực hiện kiểm tra, giám sát đột xuất theo chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
2. Đảm bảo không chồng chéo về nội dung, đối tượng, thời kỳ kiểm tra giữa các cơ quan, đơn vị, đảm bảo tính chủ động, kịp thời, công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác; đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định.
3. Trường hợp cơ quan thực hiện kiểm tra, giám sát yêu cầu đối tượng được kiểm tra, giám sát cung cấp hồ sơ, tài liệu, báo cáo thì phải được lập thành Biên bản ghi nhận đầy đủ sự việc.
4. Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm thì cơ quan thực hiện kiểm tra, giám sát có trách nhiệm kịp thời xử lý hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.