Điều 13. Ban đề thi
1. Ban đề thi do Chủ tịch Hội đồng kỳ thi quyết định thành lập, gồm: Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các thành viên, trong đó có một thành viên kiêm Thư ký.
2. Ban đề thi có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Xây dựng đề thi, đáp án và hướng dẫn chấm điểm (nếu có) bài thi;
b) Xây dựng bộ câu hỏi phỏng vấn, đáp án và hướng dẫn chấm điểm (nếu có) phần phỏng vấn (trong trường hợp kỳ thi có hình thức thi viết kết hợp phỏng vấn);
c) Bàn giao đề thi, đáp án và hướng dẫn chấm điểm (nếu có) cho Chủ tịch Hội đồng kỳ thi trước thời điểm khai mạc kỳ thi ít nhất 01 ngày làm việc;
d) Bảo đảm nguyên tắc bảo mật đối với đề thi, đáp án, hướng dẫn chấm điểm (nếu có) và các tài liệu liên quan trước khi được giải mật theo quy định.
3. Trưởng ban Ban đề thi có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ của Ban đề thi;
b) Phân công nhiệm vụ cho các thành viên Ban đề thi và thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Phó Trưởng ban và các thành viên Ban đề thi thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng ban; báo cáo Trưởng ban về kết quả thực hiện và chịu trách nhiệm về nhiệm vụ được phân công; thành viên kiêm Thư ký Ban đề thi ghi biên bản các cuộc họp của Ban đề thi.
5. Nguyên tắc làm việc của Ban đề thi:
Các thành viên của Ban đề thi làm việc độc lập; chịu trách nhiệm cá nhân đối với phần việc được phân công; không can thiệp vào nhiệm vụ của thành viên khác, trừ trường hợp được Trưởng ban phân công.
6. Tiêu chuẩn thành viên Ban đề thi:
a) Là người có trình độ chuyên môn phù hợp, am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm thực tiễn trong công tác xét xử hoặc quản lý công tác chuyên môn nghiệp vụ tại Tòa án nhân dân;
b) Người được cử tham gia Ban đề thi không được tham gia Ban coi thi.