Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Sĩ quan, hạ sĩ quan, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên công an (sau đây gọi chung là cán bộ, chiến sĩ) trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở các chiến trường B, C, K trong khoảng thời gian từ ngày 20 tháng 7 năm 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, về gia đình từ ngày 31 tháng 12 năm 1976 trở về trước, chưa được hưởng một trong các chế độ phục viên, xuất ngũ, thôi việc, bệnh binh, mất sức lao động hằng tháng và chế độ hưu trí hằng tháng, trước khi về gia đình thuộc biên chế Công an nhân dân (sau đây gọi là đối tượng 1).
2. Hạ sĩ quan, chiến sĩ công an tham gia chiến đấu, hoạt động tại các chiến trường B, C, K trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, không có vợ hoặc chồng; cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi; con đẻ, con nuôi hợp pháp phải trực tiếp nuôi dưỡng ở miền Bắc, trước khi nghỉ công tác hưởng chế độ do Nhà nước quy định thuộc biên chế Công an nhân dân (sau đây gọi là đối tượng 2).
3. Lực lượng mật là những người cộng tác bí mật với cơ quan Công an, được Công an từ cấp huyện (quận), Ban an ninh huyện (quận) trở lên tổ chức, quản lý và giao nhiệm vụ hoạt động trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 ở chiến trường B, C, K (kể cả số đã chết), gồm: Đặc tình, cộng tác viên, cơ sở bí mật, cộng tác viên danh dự, hộp thư bí mật (sau đây gọi là đối tượng 3).