Điều 20. Tổ chức thực hiện
1. Bộ Dân tộc và Tôn giáo là cơ quan chủ trì hướng dẫn, tổ chức thực hiện, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổng hợp tình hình thực hiện các nội dung quy định tại Thông tư này; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính và các bộ, cơ quan trung ương có liên quan trong quá trình tổ chức thực hiện.
a) Theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện các nội dung thuộc phạm vi Thông tư này;
b) Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan trung ương có liên quan xây dựng tài liệu, biểu mẫu, công cụ theo dõi, kiểm tra, đánh giá đối với các nội dung thuộc Hợp phần thứ hai;
c) Tổng hợp tiến độ, kết quả thực hiện, kiến nghị của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương để báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định;
d) Chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan trung ương có liên quan tổ chức thực hiện các nội dung hoạt động ở quy mô vùng, liên vùng, toàn quốc;
đ) Phối hợp với các bộ, cơ quan trung ương kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các nội dung thuộc Hợp phần thứ hai; kịp thời đề xuất điều chỉnh, bổ sung hoặc xử lý những vấn đề phát sinh vượt thẩm quyền.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện về tổ chức triển khai thực hiện các nội dung quy định tại Thông tư này bảo đảm đúng mục tiêu, đúng đối tượng, địa bàn, nội dung, nguồn vốn và quy định pháp luật.
a) Chỉ đạo rà soát, xác định đối tượng, địa bàn, nhu cầu và thứ tự ưu tiên đầu tư, hỗ trợ;
b) Phân công rõ trách nhiệm của cơ quan công tác dân tộc và tôn giáo cấp tỉnh, các sở, ngành, Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan, đơn vị liên quan;
c) Lồng ghép nguồn lực, tránh trùng lặp chính sách, tránh phân tán nguồn lực, ưu tiên địa bàn đặc biệt khó khăn, các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù và các đối tượng yếu thế;
d) Tổ chức kiểm tra, đánh giá, tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện; kịp thời phát hiện, xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý khó khăn, vướng mắc, vi phạm (nếu có).
đ) Đối với các mục tiêu, nhiệm vụ có liên quan đến vùng đồng bào DTTS&MN nhưng nội dung, hoạt động cụ thể không được quy định tại Hợp phần thứ hai thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ hướng dẫn của cơ quan chủ trì nội dung, hợp phần tương ứng của Chương trình bố trí nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ:
Phấn đấu tăng thu nhập bình quân của người DTTS bằng 1/2 bình quân chung của cả nước.
Góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào DTTS&MN xuống dưới 10%.
Góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng tăng dần tỷ lệ các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ.
Hằng năm thu hút 3% lao động sang làm các ngành, nghề: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ.
Phấn đấu có 40% lao động người DTTS biết làm các ngành, nghề: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ.
Phấn đấu có 80% số hộ nông dân người DTTS biết làm kinh tế nông - lâm nghiệp hàng hóa.
Phấn đấu tăng quy mô tuyển sinh đào tạo các trình độ của giáo dục đại học đối với người DTTS thuộc vùng đồng bào DTTS&MN hằng năm đạt ít nhất 10%.
Nâng cao năng lực cho cộng đồng, cán bộ ở các cấp triển khai thực hiện hợp phần thứ hai của Chương trình ở vùng đồng bào DTTS&MN.
Đào tạo, quy hoạch, xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS, nhất là các DTTS tại chỗ. Bảo đảm tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS phù hợp với tỷ lệ dân số là người DTTS ở từng địa phương.
Hỗ trợ chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm an ninh quốc phòng vùng đồng bào DTTS&MN.
Phấn đấu tăng 30% tỷ lệ người lao động các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù biết nghề, sống bằng nghề được đào tạo.
Hỗ trợ đồng bào DTTS được tiếp cận thông tin về khoa học công nghệ và quảng bá các sản phẩm của địa phương cho bạn bè trong nước và thế giới.
Nâng cao khả năng ứng dụng và sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội cho vùng đồng bào DTTS&MN, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong triển khai thực hiện Chương trình.
Nâng cao năng lực, nhận thức của đồng bào DTTS trong ứng dụng chuyển đổi số để nâng cao giá trị cuộc sống và hiệu quả lao động sản xuất.
e) Các địa phương căn cứ tình hình thực tế cân đối nguồn lực để thực hiện lồng ghép nguồn lực hỗ trợ các hộ, nhóm hộ, cộng đồng dân cư thuộc dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù với các chính sách về nhà ở, sinh kế, bảo tồn văn hóa, nâng cao chất lượng dân số với định mức cao hơn các dân tộc khác cùng trên địa bàn.
g) Đối với các địa phương đã hoàn thành mục tiêu giảm nghèo, không còn xã đặc biệt khó khăn và không còn hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn hiện hành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế của địa phương chủ động xác định nội dung, đối tượng ưu tiên hỗ trợ theo hướng phát triển bền vững, nâng cao chất lượng đời sống và thu hẹp khoảng cách phát triển vùng đồng bào DTTS&MN.
3. Cơ chế phối hợp và xử lý vướng mắc
Trong quá trình thực hiện, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương phải bảo đảm phối hợp thường xuyên, kịp thời, thống nhất; trường hợp phát sinh nội dung chưa rõ thẩm quyền hướng dẫn thì cơ quan, địa phương gửi văn bản về Bộ Dân tộc và Tôn giáo để tổng hợp, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các bộ, cơ quan liên quan xem xét, hướng dẫn hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định.
4. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được dẫn chiếu tại Thông tư này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế, thì áp dụng theo văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế đó.