Điều 16. Phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Đối tượng
a) Già làng, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc, chức việc, nhà tu hành trong tôn giáo, đồng bào DTTS và người dân sinh sống trên địa bàn vùng đồng bào DTTS&MN. Trong đó, ưu tiên đồng bào DTTS rất ít người, dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù; người DTTS có đạo; học sinh, sinh viên học tập tại các cơ sở giáo dục đào tạo trên địa bàn vùng đồng bào DTTS&MN
b) Đội ngũ hạt nhân nòng cốt làm công tác phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL); người làm công tác dân tộc, tôn giáo tại địa phương; cán bộ, công chức, viên chức, người được giao thực hiện nhiệm vụ PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN.
2. Nội dung thực hiện
a) Truyền thông, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp và các quy định của pháp luật có tác động trực tiếp đến đời sống của đồng bào DTTS, người dân sinh sống tại vùng đồng bào DTTS&MN công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết sinh kế, việc làm, an sinh xã hội đối với vùng đồng bào DTTS&MN lợi ích của việc chấp hành pháp luật, tuân thủ pháp luật gắn với phong tục, tập quán, văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc, gắn với giáo lý, giáo luật đối với đồng bào DTTS có đạo; tác động của chính sách, pháp luật đối với việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân;
b) Xây dựng các tình huống thực tế, nhân vật cụ thể, tiểu phẩm, phóng sự, bản tin, câu chuyện pháp luật gắn với đời sống của đồng bào DTTS, vùng đồng bào DTTS&MN cảnh báo, phòng ngừa vi phạm pháp luật... trong đó, khuyến khích, ưu tiên sản xuất nội dung PBGDPL bằng tiếng DTTS trên sóng phát thanh, truyền hình, đăng tải trên chuyên trang, chuyên mục của báo, tạp chí, cổng/trang thông tin điện tử của bộ, cơ quan trung ương, địa phương, cơ quan, tổ chức; chia sẻ, kết nối dữ liệu với Cổng pháp luật Quốc gia, các nền tảng số, mạng xã hội;
c) Xây dựng, duy trì và nhân rộng các mô hình PBGDPL tại cộng đồng hiệu quả, phù hợp với đặc thù đối tượng, địa bàn vùng đồng bào DTTS&MN. Chú trọng các mô hình phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp, giáo lý, giáo luật (sống tốt đời, đẹp đạo); vai trò trung tâm của người dân, của cộng đồng; vai trò, uy tín của đội ngũ hạt nhân nòng cốt, tuyên truyền viên pháp luật, trưởng thôn, bản, người có uy tín trong đồng bào DTTS, chức sắc, chức việc trong các tôn giáo;
d) Xây dựng, biên soạn chương trình, tài liệu PBGDPL; thường xuyên cập nhật, bổ sung chương trình, tài liệu; số hóa toàn bộ chương trình, tài liệu PBGDPL;
đ) Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ PBGDPL chú trọng các kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, chuyển đổi số và sử dụng AI, nền tảng số; chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, tình hình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN để nâng cao hiệu quả PBGDPL;
e) Tổ chức đối thoại, hội nghị, hội thảo, tọa đàm trao đổi kinh nghiệm trong, ngoài nước và các hoạt động khác để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ, cách làm hay, mô hình hiệu quả phù hợp với thực tiễn, đặc thù các đối tượng, địa bàn vùng đồng bào DTTS&MN để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, nâng cao hiệu quả PBGDPL;
g) Rà soát tập quán, hủ tục trái với quy định của pháp luật; tuyên truyền, vận động xóa bỏ cơ bản các tập quán, hủ tục;
h) Biên soạn chương trình, tài liệu và tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ hạt nhân nòng cốt làm công tác PBGDPL.
3. Nội dung hỗ trợ từ ngân sách nhà nước của Chương trình: kinh phí thường xuyên hỗ trợ thực hiện các nội dung quy định tại khoản 2 Điều này.