Điều 12. Xác định phí đấu giá, giá đất trước đấu giá và tiền đặt cọc.
1. Phí đấu giá:
a) Khu đất có giá trị dưới năm mươi (50) triệu đồng thì mức phí đấu giá là 150.000 đồng/đơn/lần đấu.
b) Khu đất có giá trị từ năm mươi (50) triệu đồng đến dưới một trăm (100) triệu đồng thì mức phí đấu giá là 300.000 đồng/đơn/lần đấu.
c) Khu đất có giá trị từ một trăm (100) triệu đồng đến dưới năm trăm (500) triệu đồng thì mức phí đấu giá là 500.000 đồng/ đơn/lần đấu.
d) Khu đất có giá trị từ năm trăm (500) triệu đồng đến dưới một (01) tỷ đồng thì mức phí đấu giá là 700.000 đồng/đơn/lần đấu.
e) Khu đất có giá trị từ một (01) tỷ đồng trở lên thì mức phí đấu giá là 1.000.000 đồng/đơn/lần đấu.
Giá trị khu đất là mức giá trước đấu giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyển xác định theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này (kể cả trường hợp đấu giá để cho thuê đất).
Phí đấu giá không hoàn trả cho tổ chức, cá nhân đã đăng ký tham gia đấu giá và được sử dụng để chi phí cho việc tổ chức đấu giá như: thông tin quảng cáo, chế độ làm việc cho các thành viên Hội đồng đấu giá và Tổ giúp việc; chi phí bảo vệ; chi phí thuê phương tiện, thiết bị phục vụ cuộc đấu giá và các chi phí khác liên quan theo chế độ Nhà nước quy định. Kết thúc cuộc đấu giá, nếu số tiền đấu giá còn dư được chuyển sang kỳ đấu giá sau. Kết thúc mỗi năm, nếu số tiền phí đấu giá thu được còn dư thì phải nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định.
2. Giá đất trước đấu giá:
Cơ quan có thẩm quyền quyết định quỹ đất đưa ra đấu giá quy định tại Điều 4 của Quy chế này có trách nhiệm xác định giá đất trước đấu giá.
a) Giá đất trước đấu giá để giao đất có thu tiền sử dụng đất:
Giá đất trước đấu giá được xác định tối thiểu không được thấp hơn mức giá đất hiện hành do UBND tỉnh ban hành theo quy định của Chính phủ mà có cở hạ tầng tương đương (bao gồm cả chi phí san lấp mặt bằng,đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật - nếu có) trong đó có tính đến thời hạn giao đất.
b) Giá đất trước đấu giá để cho thuê đất được xác định bằng số tiền thuê đất phải trả trong một năm.
Giá đất trước đấu giá để cho thuê được tính trên cơ sở diện tích thửa đất đấu giá, giá đất theo khung giá của UBND tỉnh ban hành và thuế suất cho thuê đất theo quy định của Bộ Tài chính.
Giá cho thuê đất đối với người trúng đấu giá được giữ ổn định trong thời hạn năm (05) năm. Sau năm (05) năm, nếu giá cho thuê đất tính theo khung giá do UBND tỉnh ban hành vào ngày 01 tháng 01 hàng năm cao hơn giá đang cho thuê thì giá cho.thuê đất được tính lại theo khung giá do UBND tỉnh quy định; trường hợp thấp hơn thì vẫn giữ nguyên theo kết quả đấu giá.
3. Tiền đặt cọc:
a) Cơ quan có thẩm quyền quyết định quỹ đất đưa ra đấu giá quy định tại Điều 4 của Quy chế này có trách nhiệm xác định số tiền đặt cọc mà người đăng ký tham gia đấu giá phải nộp nhưng tối đa không quá 5% mức giá trước đấu giá.
b) Tiền đặt cọc chỉ được giữ trong thời gian đấu giá. Người trúng đấu giá được trừ tiền đặt cọc vào tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp.
c) Người đã nộp tiền đặt cọc được lấy lại khoản tiền đặt cọc trong các trường hợp sau:
- Người đã đăng ký tham gia đấu giá nhưng không đủ tư cách để tham gia đấu giá;
- Người không trúng đấu giá, được trả lại ngay sau khi cuộc đấu giá kết thúc;
- Người đã đăng ký tham gia đấu giá nhưng rút lại hồ sơ trong thời hạn tiếp nhận hồ sơ đăng ký đã quy định;
- Người trúng giá bổ sung từ chối không nhận quyền sử dụng đất quy định tại điểm g khoản 3 Điều 14 của Quy chế này.
d) Người đã nộp tiền đặt cọc không được lấy lại khoản tiền đặt cọc và phải nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước trong các trường hợp sau:
- Người đã đăng ký tham gia đấu giá nhưng không tham gia đấu giá;
- Người tham gia đấu giá từ vòng thứ hai trở đi nhưng trả giá vòng sau thấp hơn mức giá do Hội đồng đấu giá xác định cho vòng đấu tiếp theo;
- Người trúng đấu giá nhưng từ chối nhận quyền sử dụng đất hoặc rút lại giá đã trả;
- Người vi phạm quy chế đấu giá của cuộc đấu giá đó.