Điều 8. Quản lý tài sản thông tin
1. Với mỗi hệ thống thông tin, các cơ quan, đơn vị phải lập danh sách tài sản thông tin với các thông tin cơ bản gồm: Tên tài sản, mức độ tiếp cận, chủ thể quản lý, phạm vi truy cập thông tin, thời gian lưu trữ, hệ thống thông tin tương ứng. Đánh giá và cập nhật danh sách tài sản thông tin tối thiểu 01 lần/năm hoặc khi xảy ra thay đổi trong cơ quan, đơn vị ảnh hưởng đến danh sách.
2. Thông tin được phân loại theo mức độ tiếp cận và có thể gắn thuộc tính đặc thù, cụ thể:
a) Thông tin phân loại theo mức độ công khai là thông tin được công khai cho tất cả các đối tượng mà không cần xác định danh tính, địa chỉ cụ thể của các đối tượng đó.
b) Thông tin phân loại theo mức độ nội bộ là thông tin được phân quyền quản lý, khai thác cho một hoặc một nhóm đối tượng đã được xác định danh tính, địa chỉ cụ thể.
c) Thông tin phân loại theo mức độ cá nhân là thông tin gắn với việc xác định danh tính một người cụ thể.
d) Thông tin phân loại theo mức độ bí mật nhà nước được quy định tại Luật Bảo vệ bí mật nhà nước số 117/2025/QH15.
3. Tài sản thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước phải tuân thủ các quy định của Luật số 117/2025/QH15, Luật Cơ yếu số 05/2011/QH13 và các quy định khác có liên quan đến quá trình tạo lập, lưu trữ, trao đổi và tiêu hủy.