Điều 6. Cơ chế và phương thức quản lý
1. Cơ chế quản lý
a) Nhà nước tạo điều kiện về tài chính, cơ chế chính sách và các nguồn lực khác để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý Khu Dự trữ Sinh quyển.
b) Khuyến khích các hoạt động sản xuất kinh doanh theo hướng thân thiện với môi trường; ưu tiên các hoạt động bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học; xây dựng và quảng bá Khu Dự trữ Sinh quyển; thu hút nhân tài, lực lượng tình nguyện viên làm việc cho Khu Dự trữ Sinh quyển và thành phố Đà Nẵng.
c) Công tác quy hoạch, đầu tư, xây dựng công trình, dự án, tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, du lịch có liên quan đến Khu Dự trữ Sinh quyển phải được xem xét, đánh giá và thực hiện theo quy định của pháp luật về
quy hoạch, đầu tư, xây dựng, bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, lâm nghiệp, thủy sản, di sản văn hóa, du lịch và các quy định pháp luật có liên quan; bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, hệ sinh thái, giá trị văn hóa – xã hội và mục tiêu phát triển bền vững của Khu Dự trữ Sinh quyển.
2. Phương thức quản lý
a) Khu Dự trữ Sinh quyển được quản lý theo phương thức quản lý tổng hợp, mở, linh hoạt, đa chiều, liên kết, phối hợp đa ngành, đa lĩnh vực, đa đối tác trong và ngoài phạm vi Khu Dự trữ Sinh quyển, cùng với sự hợp tác quốc tế rộng rãi, tạo được sự đồng thuận đa số của cộng đồng dân cư địa phương, đặt dưới sự quản lý thống nhất của Ủy ban nhân dân thành phố.
b) Ban quản lý Khu Dự trữ Sinh quyển là tổ chức phối hợp liên ngành, không trực tiếp quản lý về mặt lãnh thổ, không thực hiện chức năng quản lý nhà nước; có trách nhiệm tham mưu, đề xuất thông qua Sở Nông nghiệp và Môi trường hoặc theo phân công của Ủy ban nhân dân thành phố để điều phối các hoạt động liên quan đến Khu Dự trữ Sinh quyển.