Điều 5. Nguyên tắc quản lý
1. Áp dụng nguyên tắc “Tiếp cận hệ sinh thái”, gồm 12 nội dung cụ thể:
a) Các mục tiêu quản lý tài nguyên đất, nước và tài nguyên sống là sự lựa chọn mang tính xã hội;
b) Quản lý hệ sinh thái phải được phân quyền đến cấp thích hợp thấp
nhất;
c) Các nhà quản lý hệ sinh thái phải xem xét hiệu quả thực tế hoặc tiềm
năng các hoạt động của mình đối với các hệ sinh thái lân cận và các hệ sinh thái khác;
d) Quản lý hệ sinh thái phải được vận hành thường xuyên trong một bối cảnh kinh tế cụ thể để thông qua đó nhận thức rõ những lợi ích có thể đạt được như: Giảm bớt những khiếm khuyết của thị trường có ảnh hưởng tiêu cực đến đa dạng sinh học; khuyến khích để thúc đẩy việc sử dụng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học và kế hoạch hóa một cách khả thi các chi phí và các lợi ích của hệ sinh thái đã xác lập;
đ) Việc bảo tồn cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái phải là mục tiêu ưu tiên của phương thức tiếp cận hệ sinh thái;
e) Các hệ sinh thái phải được quản lý trong các giới hạn về chức năng của chúng;
g) Việc tiếp cận hệ sinh thái phải được thực hiện theo các quy mô thích hợp về mặt không gian và thời gian;
h) Các mục tiêu quản lý hệ sinh thái phải có tầm nhìn dài hạn bởi các kết quả chỉ có thể diễn ra từ từ do đặc trưng của các quá trình sinh thái và do sự thay đổi quy mô không gian theo thời gian;
i) Việc quản lý hệ sinh thái phải công nhận sự thay đổi là điều không thể tránh khỏi;
k) Phương thức tiếp cận hệ sinh thái đòi hỏi giữa bảo tồn và sử dụng đa dạng sinh học phải tìm kiếm sự cân bằng thích hợp và hợp thành một hệ thống thống nhất;
l) Quản lý tiếp cận hệ sinh thái cần phải xem xét tất cả các nguồn thông tin có liên quan bao gồm các kiến thức khoa học, kiến thức của cư dân bản địa, yêu cầu đổi mới và thực tiễn địa phương;
m) Quản lý tiếp cận hệ sinh thái cần sự tham gia của tất cả các lực lượng, các lĩnh vực xã hội và các ngành khoa học tương ứng.
2. Quản lý Khu Dự trữ Sinh quyển phải có sự tham gia của 04 lực lượng gồm:
a) Lực lượng quản lý;
b) Lực lượng nghiên cứu khoa học;
c) Lực lượng doanh nghiệp;
d) Lực lượng quần chúng.
3. Quản lý Khu Dự trữ Sinh quyển phải bảo đảm sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người.
4. Thông qua quản lý Khu Dự trữ Sinh quyển để tăng cường tính thực thi pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là tại vùng lõi và vùng đệm của Khu Dự trữ Sinh quyển.