Điều 18. Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong phạm vi quản lý của mình có trách nhiệm:
1. Tổ chức thực hiện tốt công tác bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật trong đơn vị mình quản lý; chịu trách nhiệm trước pháp luật và cấp có thẩm quyền về công tác bảo vệ bí mật nhà nước thuộc trách nhiệm đơn vị mình.
2. Xây dựng nội quy, quy chế về bảo vệ bí mật nhà nước hoặc bổ sung nội dung bảo vệ bí mật nhà nước vào quy chế, nội quy của đơn vị mình để thực hiện.
3. Căn cứ các danh mục bí mật nhà nước đã được Nhà nước quy định để ban hành văn bản quy định cụ thể độ mật (Tuyệt mật, tối mật, mật) của từng loại tài liệu, vật mang bí mật nhà nước của đơn vị mình trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Quyết định ban hành để thực hiện.
4. Lựa chọn, bố trí cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm có đủ phẩm chất, năng lực làm công tác bảo vệ bí mật nhà nước, giúp lãnh đạo theo dõi, kiểm tra việc thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước. Trước khi tuyển dụng hoặc chuyển công tác khác đối với cán bộ làm công tác liên quan trực tiếp đến bí mật nhà nước thì phải có sự trao đổi với cơ quan Công an cùng cấp để xem xét.
5. Giáo dục cán bộ, công chức, viên chức ý thức cảnh giác, quản lý, bảo vệ bí mật nhà nước; có biện pháp cụ thể quản lý cán bộ, nhất là cán bộ nắm giữ nhiều bí mật nhà nước, cán bộ thường xuyên đi công tác nước ngoài hoặc làm việc với người nước ngoài.
6. Đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ yêu cầu công tác bảo vệ bí mật nhà nước bằng nguồn kinh phí của cơ quan, đơn vị theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước. Đăng ký với cơ quan Công an có thẩm quyền để khắc các loại con dấu bảo mật theo quy định.
7. Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ báo cáo, sơ kết, tổng kết về công tác bảo vệ BMNN trong phạm vi quản lý của mình, cụ thể:
a) Báo cáo những vụ việc lộ, mất tài liệu, vật mang bí mật nhà nước xảy ra hoặc các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, gây phương hại đến an ninh quốc gia hoặc lợi ích của nhà nước.
b) Báo cáo toàn diện về công tác bảo vệ bí mật nhà nước định kỳ mỗi năm một lần.
c) Chế độ báo cáo quy định như sau: Báo cáo của cơ quan, đơn vị nêu tại Điều 4 Quy chế này gửi cấp trên trực tiếp, đồng gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh và Công an tỉnh; Báo cáo của các đơn vị trực thuộc các cơ quan, đơn vị nêu trên gửi thủ trưởng cơ quan, tổ chức, địa phương đó, đồng gửi cơ quan Công an cùng cấp.
d) Uỷ ban nhân dân tỉnh tổ chức sơ kết công tác bảo vệ bí mật nhà nước mỗi năm một lần, 5 năm tổng kết một lần. Báo cáo sơ kết, báo cáo tổng kết gửi Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi Bộ Công an.