Điều 32. Đường ngang cấp I, cấp II có tổ chức phòng vệ phải trang bị cần chắn tự động hoặc tín hiệu cảnh báo tự động. Khi chưa có cần chắn tự động hoặc tín hiệu cảnh báo tự động thì phải có người gác. — Quyết định 737/2001/QĐ-BGTVT
Đang đối chiếu hiệu lực…
So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 12/02/2005
Bản hợp nhất mới nhất
· phiên bản 2/2 · từ 12/02/2005
Thay thế: 12/2005/QĐ-BGTVT · 19/01/2005
Dòng đời phiên bản
3 đời quyết định · 5 phiên bản · 25 năm
12/02/200512/2005/QĐ-BGTVTBãi bỏ Đang xem
04/04/2001Bản gốcBan hành mới
Bạn đang xem một phần của
Quyết định 737/2001/QĐ-BGTVT › Chương IV › Mục I › Điều 32
Đọc toàn văn
Mục lục
Điều 1. Nay ban hành "Điều lệ đường ngang" kèm theo Quyết định này.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký và thay thế Điều lệ đường ngang đã ban hành theo Quyết định số 575/QĐ ngày 24 tháng 5 năm 1977 của Bộ Giao thông vận tải.
Điều 3
Chương I — QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1
Điều 2. Phạm vi đường ngang bao gồm:
Điều 3. Đường ngang được phân loại như sau:
Điều 4. Đường ngang được phân thành các cấp cụ thể như sau:
Điều 5. Việc phòng vệ đường ngang được quy định như sau:
Điều 6
Điều 7. Hàng năm, cơ quan quản lý đường sắt và cơ quan quản lý đường bộ phối hợp kiểm tra, lập kế hoạch sửa chữa đường ngang.
Điều 8. Lực lượng Thanh tra giao thông Đường sắt, Đường bộ có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành pháp luật về bảo vệ công trình giao thông và an toàn giao thông tại đường ngang.
Chương II — TẦM NHÌN, VỊ TRÍ, GÓC GIAO CẮT
Điều 9. Tầm nhìn tối thiểu cho người lái xe, lái tàu phải bảo đảm như sau:
Điều 10. Vị trí đặt đường ngang phải thoả mãn các điều kiện:
Điều 11. Góc giao cắt giữa đường sắt và đường bộ là 90 0 ; trường hợp địa hình khó khăn góc giao cắt không được nhỏ hơn 45 0 .
Chương III — CÔNG TRÌNH VÀ KIẾN TRÚC ĐƯỜNG NGANG
Điều 12. Đoạn đường bộ tại các đường ngang ngoài việc phải bảo đảm các quy định của Tiêu chuẩn ngành TCVN 4054-98 về đường ô tô, còn phải bảo đảm các quy định cụ thể sau:
Điều 13. Mặt lát đường bộ trong phạm vi đường ngang được quy định như sau:
Điều 14. Đoạn đường sắt trong phạm vi đường ngang phải bảo đảm các yêu cầu sau:
Điều 15. Nhà gác đường ngang chỉ được xây dựng khi có quyết định của Người đứng đầu Đường sắt Việt Nam và phải bảo đảm các điều kiện sau:
Chương IV — BÁO HIỆU ĐƯỜNG NGANG
Điều 16. Dọc hai bên lề đường bộ dẫn vào đường ngang phải trồng cọc tiêu theo quy định của Điều lệ báo hiệu đường bộ hiện hành ( Phụ bản II ).
Điều 17
Điều 18. Trên hai phía đường bộ đi vào đường ngang phải đặt biển báo hiệu theo quy định của Điều lệ báo hiệu đường bộ hiện hành:
Điều 19. Đường ngang có tổ chức phòng vệ phải đặt đèn báo hiệu và chuông điện trên đường bộ.
Điều 20. Đèn báo hiệu và chuông điện trên đường bộ quy định tại Điều 19 Điều lệ này phải đạt các yêu cầu sau:
Điều 21
Điều 22. Trên hai phía đường sắt đi tới đường ngang phải đặt biển "Kéo còi". Vị trí, quy cách biển quy định trong Quy trình tín hiệu Đường sắt Việt Nam.
Điều 23. Trên hai phía đường sắt đi tới đường ngang có người gác khi cần phải đặt tín hiệu ngăn đường thì Người đứng đầu Đường sắt Việt Nam quyết định, trừ những đường ngang sau:
Điều 24
Điều 25
Điều 26. Trong nhà gác đường ngang phải có các thiết bị thông tin tín hiệu như điện thoại hoặc điện thoại và thiết bị thông báo tự động cho nhân viên gác chắn biết khi tàu tới gần đường ngang.
Điều 27
Điều 28
Điều 29
Điều 30. Ở đường ngang có người gác, khi chắn đã đóng, xà chắn phải chắn ngang hết mặt đường bộ, liền sát với hàng rào cố định và phải cao hơn mặt đường bộ từ 1 đến 1,2 m.
Điều 31. Chắn ở đường ngang có người gác có 2 loại: cần chắn và giàn chắn. Quy cách, tiêu chuẩn kỹ thuật của cần chắn, giàn chắn được quy định theo sơ đồ tại Phụ bản IV.
Điều 32. Đường ngang cấp I, cấp II có tổ chức phòng vệ phải trang bị cần chắn tự động hoặc tín hiệu cảnh báo tự động. Khi chưa có cần chắn tự động hoặc tín hiệu cảnh báo tự động thì phải có người gác.
Điều 33
Điều 34. Các cơ cấu và thiết bị chắn tự động phải bảo đảm hoạt động theo trình tự sau:
Điều 35
Điều 36. Tại ngã ba, ngã tư đường bộ có nhánh đường bộ đi vào đường ngang có tổ chức phòng vệ, khi khoảng cách từ ngã ba, ngã tư đó đến đường ngang nhỏ hơn 50 m thì cơ quan quản lý đường bộ phải:
Điều 37. Đường bộ cùng một lúc giao cắt cả đường sắt và đường bộ chạy song song với đường sắt, việc đặt biển báo hiệu trên đường bộ đi vào đường ngang quy định như sau:
Chương V — QUY ĐỊNH VỀ GIAO THÔNG TRÊN ĐƯỜNG NGANG
Điều 38. Người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ khi qua đường ngang phải thực hiện theo quy định như sau:
Điều 39. Trong phạm vi đường ngang cấm quay xe và đỗ xe.
Điều 40
Điều 41
Điều 42
Điều 43. Cấm người không có trách nhiệm leo trèo, xê dịch, động chạm vào các tín hiệu, thiết bị đường ngang; vào nhà gác đường ngang.
Điều 44
Điều 45
Chương VI — TỔ CHỨC PHÒNG VỆ ĐƯỜNG NGANG
Điều 46. Tại đường ngang có bố trí người gác phải:
Điều 47
Chương VII — QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG NGANG
Điều 48
Điều 49
Điều 50. Thẩm quyền quyết định thành lập, bãi bỏ, chuyển cấp đường ngang quy định như sau:
Điều 51
Điều 52
Điều 53. Mọi tổ chức xin thành lập đường ngang, nâng cấp, làm đường ngầm, cầu vượt qua đường sắt phải tuân theo quy định về vốn đầu tư xây dựng, cụ thể như sau:
Điều 54
Điều 55. Phạm vi quản lý đường ngang quy định như sau:
Điều 56
Chương VIII — ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG
Điều 57. Việc xây dưng mới đường ngang phải tuân theo quy định tại Điều lệ này.
Không có điều nào khớp từ khoá.
Ghi chú của bạn
Ghi chú riêng của bạn cho: văn bản này
Ghi chú đã lưu
Cỡ chữ
Font chữ
Giãn dòng
Độ rộng
Nền giấy