vanban.org

Điều 24. Khai báo tạm trú cho khách du lịch lưu trú trên tàu — Quyết định 716/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 09/08/2012 Sửa đổi, bổ sung: 1886/2012/QĐ-UBND · 30/07/2012
Quảng Ninh Ban hành 15/03/2011 Hiệu lực 30/03/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 716/2011/QĐ-UBND Về việc quản lý hoạt động tàu vận chuyển khách tham quan du lịch và tàu lưu trú khách du lịch trên vịnh Hạ Long · 716/2011/QĐ-UBND
09/08/20121886/2012/QĐ-UBNDSửa đổi, bổ sung Hiện hành 30/03/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 716/2011/QĐ-UBND › Chương V › Mục 2 › Điều 24
Đọc toàn văn

Điều 24. Khai báo tạm trú cho khách du lịch lưu trú trên tàu

1. Khách du lịch lưu trú phải có giấy tờ tùy thân hợp lệ sau đây:

a) Đối với người Việt Nam: Giấy chứng minh thư nhân dân hoặc giấy tờ tùy thân khác theo quy định;

b) Đối với người nước ngoài: Hộ chiếu, giấy tờ thay hộ chiếu còn giá trị sử dụng.

2. Việc lập danh sách hành khách, khai báo tạm trú đối với khách du lịch lưu trú (kể cả người Việt Nam và người nước ngoài):

a) Chủ tàu lưu trú có trách nhiệm khai báo đăng ký tạm trú cho khách du lịch lưu trú trên tàu của mình qua mạng internet với cơ quan Công an theo quy định và chịu trách nhiệm về tính chính xác của danh sách truyền qua mạng;

b) Danh sách khách du lịch lưu trú sau khi truyền qua mạng được in thành 02 bản, 01 bản thuyền trưởng mang theo tàu, 01 bản nộp cho Cảng vụ khi làm giấy phép rời cảng, bến;

c) Công an tỉnh thống nhất hướng dẫn việc đăng ký khai báo danh sách hành khách tạm trú qua mạng.

d) Danh sách khách du lịch lưu trú được lưu trữ tại Cảng vụ và trên tàu tối thiểu 06 tháng.