Điều 9. Thẩm quyền và trách nhiệm xử lý nợ bị rủi ro
1. Thủ tướng Chính phủ.
Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc miễn, giảm lãi, xoá nợ cho khách hàng vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội bị rủi ro do nguyên nhân khách quan xảy ra trên diện rộng và trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và thẩm định của liên Bộ.
2. Bộ Tài chính chủ trì cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:
- Phúc tra hồ sơ đề nghị miễn, giảm lãi, xoá nợ cho khách hàng vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội bị rủi ro do nguyên nhân khách quan xảy ra trên diện rộng để báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;
- Kiểm tra việc thực hiện xử lý nợ cho khách hàng vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội bị rủi ro do nguyên nhân khách quan theo quy định tại Quy chế này.
3. Ngân hàng Chính sách xã hội
- Hội đồng Quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét, quyết định việc xử lý nợ cho khách hàng vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội bị rủi ro do nguyên nhân khách quan đối với các trường hợp còn lại thuộc diện đơn lẻ, cục bộ; xem xét, quyết định việc gia hạn nợ cho khách hàng vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội bị rủi ro do nguyên nhân khách quan xảy ra trên diện rộng
- Hội đồng Quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội chịu trách nhiệm hướng dẫn các đơn vị trong hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội và khách hàng lập hồ sơ đề nghị xử lý nợ bị rủi ro theo quy định tại Quy chế này.
- Hội đồng Quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội chịu trách nhiệm kiểm tra xác nhận mức độ rủi ro của khách hàng; xác nhận tính chính xác, tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị xử lý nợ của khách hàng để quyết định xử lý nợ theo thẩm quyền hoặc báo cáo liên Bộ phúc tra hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.