Điều 9. Thẩm quyền quyết định thu hồi tài sản công
1. Tài sản công là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô thuộc các trường hợp phải thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều 41 của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công:
a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố quyết định thu hồi tài sản là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của các cơ quan, đơn vị (không phân biệt cấp quản lý, bao gồm tài sản công do Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân thành phố quản lý, sử dụng trực tiếp).
b) Sở Tài chính quyết định thu hồi xe ô tô của các cơ quan, đơn vị (không phân biệt cấp quản lý, bao gồm tài sản công do Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân thành phố quản lý, sử dụng trực tiếp).
2. Đối với tài sản công thuộc các trường hợp phải thu hồi quy định tại khoản 1 Điều 41 của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công (trừ trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô):
a) Sở Tài chính quyết định thu hồi tài sản công của các cơ quan chuyên môn và tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân thành phố, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố; Ủy ban nhân dân các phường, xã và tài sản công do Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân thành phố quản lý, sử dụng trực tiếp.
b) Cơ quan chuyên môn và tổ chức hành chính thuộc Ủy ban nhân dân thành phố; Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, xã quyết định thu hồi đối với tài sản công của các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý.
3. Trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này không bao gồm trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của các cơ quan, đơn vị đặt trên địa bàn tỉnh/ thành phố khác (nếu có).