Điều 11. Thẩm quyền quyết định bán tài sản công là tài sản cố định
1. Đối với tài sản thuộc quy định tại điểm a khoản 1 Điều 43 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công (tài sản công bị thu hồi được xử lý theo hình thức bán): Cơ quan có thẩm quyền thu hồi tài sản công quy định tại Điều 9 là cơ quan quyết định bán (trừ tài sản công có nguyên giá dưới 250 triệu đồng/01 đơn vị tài sản, tài sản có giá trị đánh giá lại dưới 50 triệu đồng/01 đơn vị tài sản của đơn vị sự nghiệp công lập).
2. Đối với tài sản thuộc quy định tại điểm b khoản 1 Điều 43 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công (tài sản công không còn nhu cầu sử dụng hoặc giảm nhu cầu sử dụng do thay đổi về tổ chức hoặc thay đổi về chức năng, nhiệm vụ và nguyên nhân khác mà không xử lý theo hình thức thu hồi hoặc điều chuyển) và tài sản theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công (tài sản thực hiện sắp xếp lại việc quản lý, sử dụng tài sản công):
a) Cơ quan chuyên môn và tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân thành phố; Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, xã quyết định bán tài sản công là tài sản cố định của cơ quan mình, cơ quan thuộc phạm vi quản lý và tài sản công có nguyên giá từ 250 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản, tài sản có giá trị đánh giá lại từ 50 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản của đơn vị thuộc phạm vi quản lý.
b) Đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố quyết định bán tài sản công có nguyên giá từ 250 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản, tài sản có giá trị đánh giá lại từ 50 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản của đơn vị mình theo đúng quy định theo đúng trình tự, thủ tục quy định.
3. Quy định bán tài sản công tại Điều này không áp dụng đối với:
a) Tài sản công là đất, tài sản gắn liền với đất.
b) Tài sản của đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư.
c) Vật tư, vật liệu thu hồi trong quá trình bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công (được quy định tại Điều 12).